Trang chủ > Bình Luận, Người dân lên tiếng, Tìm hiểu, Tin Việt Nam > Lm. Nguyễn Văn Lý: Thư Yêu Cầu Trả Lời Dứt Khoát Với Quốc Dân Lần 3

Lm. Nguyễn Văn Lý: Thư Yêu Cầu Trả Lời Dứt Khoát Với Quốc Dân Lần 3

 

LTCG (26.05.2011) – Thừa Thiên Huế – Việt Nam, ngày 26 tháng 5 năm 2011

Thư Yêu Cầu Trả Lời Dứt Khoát Với Quốc Dân Lần 3

Về Lãnh Thổ và Lãnh Hải của Tổ Quốc đã bị Cộng Sản Việt Nam Trao Nhượng cho Trung Cộng

Kính gửi :  Ông Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao Trương Hòa Bình, 48 Lý Thường Kiệt, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Đồng kính gửi :    – Ông Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường, 60 Trần Phú, Ba Đình, Hà Nội.

- Ông Bộ trưởng Bộ Công an Lê Hồng Anh, 44 Yết Kiêu, Hoàn Kiếm, Hà Nội.

- Ông Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao Trần Quốc Vượng, 44 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội.

- Bà Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Quốc hội khóa XII Lê Thị Thu Ba, 35 Ngô Quyền, Ba Đình, Hà Nội.

- Đồng bào Việt Nam quốc nội và hải ngoại,

- Các Tổ chức, Hội đoàn và Đảng phái Việt Nam quốc nội và hải ngoại,

- Các Cơ quan Truyền thông và Báo chí Việt Nam.

- Các Tổ chức quốc tế và các Cơ quan Truyền thông quốc tế.

 

I- Đại diện các nguyên cáo yêu cầu trả lời :

- Nguyễn Văn Lý, Linh mục Công giáo Tổng Giáo phận Huế, 69 Phan Đình Phùng, Huế.

II-  Nội dung yêu cầu phải trả lời dứt khoát minh bạch với toàn thể Quốc Dân Việt Nam trong Nước và khắp nơi trên thế giới.

Kính thưa Ông Chánh Án,

Đã hơn 150 ngày trôi qua, kể từ ngày 21-12-2010, khi 14 Công dân Việt Nam đầu tiên cùng với tôi đứng tên (các ngày sau đã có hàng ngàn Công dân Việt Nam khác đã cùng ký tên) trong Đơn Tố Cáo và Yêu Cầu Truy Tố tập thể các Ủy viên Bộ Chính Trị Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam (BCT BCHTƯ ĐCSVN) Khóa X và tất cả các khóa trước đó đến Khóa I, đặc biệt có cả ông Hồ Chí Minh, về 2 tội Phản Quốc và Bán Nước, với những chứng cứ phạm tội rõ ràng không sao phản bác được. (1)

Chúng tôi đã biết trước Ông không thể hiên ngang trả lời vì sao Ông không được phép truy tố các tiền bối CS và các cấp lãnh đạo đương nhiệm của Ông. Nhưng mục đích của chúng tôi là muốn làm sáng tỏ trước công luận Quốc Dân và Quốc Tế rằng :Do đâu và bởi ai mà một phần lãnh thổ và lãnh hải trọng yếu của Tổ quốc Việt Nam, vốn vẫn nguyên vẹn qua hàng ngàn năm dựng Nước và giữ Nước, tự dưng lại bị mất vào tay Trung Cộng cách quá dễ dàng từ khi Đảng CSVN cướp Chính quyền năm 1954 ? Các tội đồ này và các đồng lõa không được phép và không xứng đáng tiếp tục khiên cưỡng độc tôn lãnh đạo Đất nước này, ngoài  ý chí của toàn Dân nữa. Bằng chứng là BCT ĐCSVN chưa bao giờ dám trưng cầu ý Dân về Điều 4 Hiến pháp 1992, xem đa số người Dân VN có đồng thuận để ĐCSVN tiếp tục độc đoán tiếm quyền lãnh đạo Đất nước mãi không ?

Vì Ông im lặng thay vì phải trả lời theo Đơn Tố Cáo và Yêu Cầu Truy Tố của chúng tôi 2 lần, lần đầu tiên ngày 21-12-2010, lần 2 ngày 30-01-2011, nên hôm nay lần thứ 3, 26-5-2011, tôi tiếp tục đại diện cho hàng ngàn người Việt đã ký tên trong Đơn Kiện nói trên, yêu cầu Ông phải trả lời cho toàn thể hơn 90 triệu Dân Việt 2 vấn đề rất nghiêm trọng liên quan sau đây :

1. Đáng kết tội gì cho những ai đã gây ra các tổn hại cực kỳ to lớn cho Tổ quốc Việt Nam ? :

1.1. Tổn hại toàn diện trong thân phận kiếp người : Khi đẩy Dân tộc và Tổ quốc Việt Nam ngày càng nô lệ Trung Cộng, Đảng CSVN đã và đang làm tổn thương tình yêu Nước thiêng liêng và danh dự của người Việt Nam khắp nơi trên thế giới, quốc nội lẫn hải ngoại, nghiêm trọng nhất là đang biến gần 87 triệu người Việt quốc nội và con cháu ngàn đời sau trở thành những nô lệ của các tộc người Trung Hoa. Kể cả sau này khi Trung Hoa đã thoát khỏi Chế độ Cộng sản, kiếp nô lệ ấy vẫn tiếp tục đè nặng trên Dân tộc Việt.

1.2. Tổn hại lãnh thổ – lãnh hải của Tổ quốc ngàn đời :

Đảng CSVN đã và đang tiến hành biến Tổ quốc Việt Nam thành thuộc địa của Trung Cộng, biến Dân tộc Việt Nam thành nô lệ của Bắc phương. Dưới chế độ Cộng sản, Tổ quốc Việt Nam chúng ta đã :

- mất từ 760 km2 đến 1.000 km2 ở vùng biên giới lãnh thổ phía Bắc.

- mất từ 11.000 km2 đến 20.000 km2 ở vùng  biên giới lãnh hải Vịnh Bắc Việt.

- mất nhiều địa điểm mang tính lịch sử như Ải Nam Quan, Bãi Tục Lãm, phân nửa thác Bản Giốc… và nhiều cao điểm chiến lược quan trọng về an ninh quốc phòng.

- mất Quần đảo Hoàng Sa và phần lớn quần đảo Trường Sa, là tài nguyên về khoáng sản, hải sản và là tiền đồn phía Đông Tổ quốc.

mất quyền kiểm soát vùng Tây Nguyên do việc để cho Trung Cộng khai thác bôxit, mất quyền kiểm soát hơn 300 ngàn hecta rừng đầu nguồn và hàng chục ngàn hecta duyên hải do việc để cho Trung Quốc thuê mướn lâu dài.

Theo Hiến pháp năm 1992, bổ sung năm 2001 và Bộ Luật Hình sự năm 1999 của Nhà nước CHXHCNVN, những kẻ đã gây ra các tổn hại cực kỳ nghiêm trọng và to lớn nêu trên đáng bị kết tội Phản Quốc và Bán Nước không ? Nếu Quí vị đang nắm trách nhiệm về nền pháp chế Việt Nam mà không dám trả lời sòng phẳng vấn đề này cho toàn thể hơn 90 triệu Đồng bào Việt Nam trong và ngoài Nước được rõ, thìlàm sao Quí vị có thể táng tận lương tâm đồng tình cho các thuộc cấp tiếp tục khủng bố, quản chế, bắt bớ, kết tội, giam tù hàng ngàn Người Việt Yêu Nước đang nỗ lực sớm giải thoát Việt Nam khỏi ách đô hộ của Trung Cộng ?

2. Làm sao để thu hồi lại phần lãnh thổ và lãnh hải trọng yếu nêu trên của Tổ quốc Việt Nam đã bị mất vào tay Trung Cộng và giúp Việt Nam ngày càng bớt nô lệ Tàu Cộng ?

2.1. Chúng tôi đã và đang Kêu Gọi toàn Dân tiến hành đồng bộ 3 việc sau đây :

2.1.1. Phát triển Cao trào Chống Giặc Tàu;

2.1.2. Tiến hành Giải thể Chế độ Cộng sản độc đảng độc tài nô lệ Trung Cộng;

2.1.3. Tiến hành Thiết lập Chế độ Dân chủ Đa nguyên Đa đảng Việt Nam Thăng tiến Hòa bình, văn minh thân thiện giữa Cộng đồng Quốc tế, để đủ sức vừa ngăn chặn hiệu quả sự bành trướng tham lam của Trung Cộng, vừa dựa vào Công pháp Quốc tế giúp thu hồi lại phần lãnh thổ và lãnh hải trọng yếu của Tổ quốc Việt Nam đã bị mất vào tay Trung Cộng, chấm dứt tình trạng nô lệ Trung Cộng ngày càng lộ rõ không thể biện minh trước Quốc Dân và Quốc tế.

2.2. Còn Quí vị, Quí vị vẫn cố tình không thay đổi kế hoạch hại Dân hại Nước cố hữu :

2.2.1. Không chịu trả tự do hoàn toàn cho các Công dân VN Yêu Nước đang tiến hành 3 việc 2.1.1-3 nêu trên, lại càng quản chế, đàn áp, bắt giữ, kết án, bỏ tù những Chiến sĩ Dân chủ Hòa bình đông thêm nữa.

2.2.2. Không trả tự do hoàn toàn cho tôi để tôi đi lại tự do và sử dụng các Nhân quyền và Dân quyền bình thường mà Công pháp Quốc tế đã buộc mọi Nước Thành viên LHQ phải chấp hành, bất chấp Công pháp Liên Hiệp Quốc mà Việt Nam đã xin tham gia nhưng không hề muốn tuân thủ, cụ thể là khi phúc đáp hồ sơ tháng 9-2009 của Tổ chức Freedom Now, Nhóm Làm việc của Liên Hiệp Quốc về Tình Trạng Bắt Giữ Tùy Tiện đã trả lời tháng 10-2010 rằng : Việt Nam vi phạm Luật pháp Quốc tế khi bắt giữ và giam cầm tôi. Nhất là Hội Đồng Nhân Quyền LHQ ngày 02-8-2010 đã nhận Đơn Kiện số 1 của tôi ngày 8-6-2010 kiện Nhà cầm quyền CSVN về vấn đề trên. Tuy không đưa nhốt tôi ở trại giam, nhưng đặt trạm CA canh gác suốt ngày đêm để biến phòng ở của tôi tại Nhà Hưu dưỡng Nhà Chung Tổng Giáo phận Huế thành một buồng giam.

Ngoan cố mù quáng tiến hành 2 việc trên đây là quí vị chung sức thu hồi lại phần lãnh thổ và lãnh hải trọng yếu của Tổ quốc Việt Nam đã bị mất và giúp thoát khỏi quốc nạn nô lệ Trung Cộng được sao ?

Quí vị phải nghiền ngẫm và công bố câu trả lời cho toàn thể hơn 90 triệu Dân Việt Nam và cho con cháu Dân Việt đời sau 2 vấn đề 1 & 2 rất nghiêm trọng nêu trên, sao cho hợp với Đạo lý ngàn đời của Tổ tiên. Đó là trách nhiệm của Quí vị, không thể tránh né thoái thác. Quí vị im lặng càng làm cho Thư Yêu Cầu này trở thành Lời Tố Cáo chính Quí vị, không thể khác được.

Chúng tôi đã thực thi trách nhiệm trước lịch sử Tổ quốc, Tổ tiên Dân tộc và Hồn thiêng Sông núi, khi lương tâm đòi buộc phải viết Đơn Tố Cáo và chất vấn Quí vị qua Thư Yêu cầu này. Chúng tôi hi vọng, với lương tri của những người tận đáy lòng vẫn còn coi mình là con dân Việt, Quí vị rất tán thành các việc làm đầy tình yêu nước của chúng tôi.

Trân trọng kính chào.

Việt Nam, ngày 26 tháng 5 năm 2011

Đại diện nguyên cáo :

Tù nhân Lương tâm Nguyễn Văn Lý,

Linh mục Công giáo Tổng Giáo phận Huế, 69 Phan Đình Phùng, Huế, tỉnh Thừa Thiên-Huế.

(1) Đơn Tố cáo và Yêu cầu Truy Tố này và Thư Yêu Cầu Trả Lời lần 2 đã được gửi ngày 21-12-2011 và ngày 30-01-2011, qua Bưu điện trung tâm thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Cả 2 văn bản đặc biệt nghiêm trọng này tôi đều ký trực tiếp, nhưng không ghi ngày tháng trên chữ ký như thói quen thận trọng của tôi. Các chữ ký này chỉ có giá trị trên 2 văn thư (2 lần, 15 bản) này thôi và đều không có đóng dấu kèm theo bên cạnh, giới hạn việc sao chụp giả mạo sử dụng trên các văn bản nào khác. Lần thứ 3 này, vì thiếu điều kiện, chữ ký không có con dấu.

About these ads
  1. Chưa có phản hồi.
  1. No trackbacks yet.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 104 other followers

%d bloggers like this: