Trang chủ > Phút suy tư > ĐƯỜNG ĐỜI VẠN NẺO

ĐƯỜNG ĐỜI VẠN NẺO

LTCG (08.02.2012)

Đầu óc rối loạn, tôi lao như bay trên xa lộ. Mẹ tôi ngồi bên cạnh, nét mặt đầy vẻ kinh hoàng, lay mạnh cánh tay tôi:

-Lái cẩn thận con ơi !

Tôi ghê sợ tiếng nói con nguời.  Thế giới loài người là thế giới chất ngất khổ đau. Ngày xưa, lúc còn ở Tiểu Chủng Viện, tôi đã từng đi Huớng Đạo, từng băng rừng lội suối để thám hiểm, tôi đã gặp lũ vắt rừng đáng sợ. Chúng như du kích âm thầm hoạt động: nghe hơi nguời, vắt từ lá mục bò lên bám kẽ ngón chân. Vắt trên lá cây buông mình rớt xuống, chui vào cổ áo. Khi nghe da thịt ngứa ngáy là lúc đã muộn: vắt no máu vươn mình chuẩn bị buông xuống đất. Trên mặt địa cầu, nơi nào cũng có loài hút máu. Nhưng so ra, trong tất cả các loài hút máu, không có loài nào kinh khủng bằng loài nguời.  Có người vì thù hận đã treo cổ người cha lên đặt đứng trên vai đứa con rồi ngồi chờ đợi, sung sướng cười hả hê khi thấy vì quá mỏi mệt chân khuỵu xuống đứa con đó đã giết đi chính người cha ruột của mình. Có người cắt nhiễn tóc trộn chung với cháo rồi bắt người khác ăn để một đời mang bệnh. Có những đàn bà mặt thiên thần nhưng trái tim ác quỷ. Chúng đã đi vào đời tôi, đã hút máu cạn kiệt, đã biến tâm hồn tôi thành sa mạc hoang vu.  Bây giờ tôi chẳng còn gì ngoài tiếng gió hú khổ đau tiều tụy….

Phải ! đúng tôi đấy.

Tôi khổ vì đàn bà.…lúc này tôi không còn sợ hãi, không dấu diếm nữa: ai có thể làm khổ tôi hơn thế nữa ?

Tôi căm thù.

Tôi thù hận loài nguời.

Nghĩ đến đây tự nhiên môi tôi mím lại, trèo trẹo nghiến răng, tay bóp mạnh vô-lăng, chân đạp ga tăng tốc. Chiếc xe rú mạnh, chồm xông tới, bốn bánh không kịp chuyển mình, nửa chơi vơi trong không khí, nửa quay tít chà xát mặt đuờng nhựa tạo tiếng rít nghe rợn màng nhĩ, phả khói mù mịt.

Khét lẹt.

Tâm hồn tôi đang xuất huyết.

Tôi nghe lương tâm mình vỡ nát.  Lúc đầu nhè nhẹ, chầm chậm, sau đó tăng tốc thành con lốc cuốn bay mọi thứ: tình yêu, tôn giáo, sĩ diện, dĩ vãng, kiến thức… nói chung tất cả những gì liên hệ đến con nguời. Tiếng vỡ nát nghe rào rạo như thủy tinh.  Mơ hồ nhưng lại hiện thực hơn bao giờ hết….

Mẹ tôi tháo cỗ tràng hạt đeo cổ, bà chuyền sang tay phải, run run những ngón tay bắt đầu lần hạt, các móng tay đã nứt nẻ, chuyển màu vàng mốc, liên tục mân mê những hạt lựu đỏ của cỗ tràng hạt.  Tôi liếc thấy mắt mẹ tôi trào lệ, giọt lệ mơn man khóe mắt, đong đưa nhẹ nhẹ như vấn vương đời tục lụy rồi sau đó đành trăn trở lăn nhẹ trên gò má.  Tôi giật mình quay hẳn nguời lại để nhìn trực diện: mẹ tôi đã già. Bao năm qua tôi mê mải cuộc đời mà quên nhìn ngắm mẹ. Mãi mãi tôi vẫn luôn là đứa con hư: không vâng lời.  Tôi đã trái ý mẹ đòi lấy bằng đuợc con nguời mà tôi nghĩ sẽ cùng tôi đi trọn đuờng đời.  Không có ngôn ngữ nào diễn tả trọn vẹn đuợc những dòng nuớc mắt, bởi vì nuớc mắt tự nó là một thứ ngôn ngữ: ngôn ngữ của khổ đau.  Tôi đã làm mẹ đau lòng.  Nỗi đau của Người Mẹ nhìn Con treo trên Thánh Giá: con quằn quại, Mẹ thắt lòng.  Như một phép lạ: nuớc mắt mẹ tôi đã làm dịu trái tim đang rực lửa hận thù của tôi. Tôi lấy lại đuợc chút bình tĩnh.  Giảm tốc độ.  Lặng lẽ đi tiếp con đuờng.

Đến nơi, tôi tắt máy, vẫn lặng lẽ ngồi trong xe.  Ươn ái mần mò túi áo tìm thuốc hút: SALEM, (đọc nguợc lại là) “Mắt Em Là Ánh Sao”, có lẽ vì thế mà từ lâu tôi đã nghiền loại thuốc này. Sao lại thế này đuợc nhỉ? Cũng vẫn đôi mắt ấy, nhưng hôm nay sao đã hoàn toànđổi khác: chúng mang hình viên đạn, sắc bén như dao, như chông nhọn hoắt căm hờn, chòng chọc nhìn tôi với vẻ khinh bỉ, thù hận.  Không hiểu sao đã một thời kỳ tôi tôn thờ đôi mắt ấy, thổn thức, buồn bâng khuâng mỗi lúc đêm về, trằn trọc giấc ngủ mơ màng nặng trĩu năm canh, cũng trong chính đôi mắt người Sơn Tây u uẩn ấy nhiều tháng năm tôi đã bơi chơi vơi và chết đuối.…

Mẹ tôi vẫn lặng lẽ lần hạt bên cạnh.  Lúc lâu sau mẹ tôi giục:

-Thôi vào đi con, đến giờ hẹn rồi. Con đừng buồn, phải luôn tin tuởng nơi Chúa trong mọi sự.  Mẹ sẽ mãi bên con.

Tôi vùng mở cửa xe lao vào phòng luật sư.  Bầu trời hôm nay gay gắt nắng lạ thuờng, hình chưa bao giờ mặt trời giận dữ như thế: tóc trên đầu tôi có mùi nắng khét lẹt.  Mẹ tôi vén khăn voan phủ đầu, tấm khăn màu đen từ ngày cha tôi nằm xuống.  Bà vẫn lẽo đẽo theo sau.

*****

Căn phòng đuợc trải thảm màu bordeau, trang trí nhiều gam màu tối, ánh sáng mờ ảo, âm u, trang trọng như một nguyện đuờng với ngọn đèn leo lét bên nhà tạm.  Chỉ có chiếc đèn để trên bàn vị luật sư là mạnh công suất.  Tôi nhận rõ: nguời luật sư này quả chuyên nghiệp các thủ tục ly dị.  Ánh sáng mờ mờ ảo ảo làm đôi bên bớt bẽ bàng khi ký giấy chia tay.   Có trề môi khinh bỉ cũng không ai biết.  Buớc vào phòng tôi đã thấy vợ tôi đứng bên một nguời đàn ông lạ mặt, lâu lâu hắn lại bóp mạnh bàn tay vợ tôi như để ngầm an ủi:

– Anh sẽ mãi bên em.

Ông luật sư buớc đến từ phía sau, tằng hắng giọng ý muốn nhắc nhở: “Đã đến lúc nghiêm chỉnh làm việc”. Sau khi mời tất cả ngồi xuống ghế đối diện, bằng giọng đanh thép nhà nghề, nửa đe doạ, nửa răn dạy, ông nhìn thẳng mặt tôi rồi nói:

-Cảm ơn ông đã bỏ chút thời giờ đến văn phòng chúng tôi đúng hẹn.  Văn phòng đã hai lần đạt thư gửi bảo đảm đến chỗ ông hiện cư ngụ để ký một số giấy tờ có liên hệ đến vụ việc ly dị của ông và bà đây.  Chúng tôi chưa hề nhận được thư hồi báo nào của ông, nên rất tiếc lần này chúng tôi đành phải thất lễ nhờ đến nhân viên công lực lập trát đòi mời ông đến.  Kính xin ông tha thứ.   Các giấy tờ này bà đã ký từ lâu, vậy giờ đây xin ông vui lòng ký những giấy này vào những chỗ tôi đã đánh dấu…Nhân danh luật pháp Hiệp Chủng Quốc tôi có nhiệm vụ phải thông báo để quý ông bà rõ là sau khi ký giấy này, ông bà không còn bị ràng buộc gì với nhau.  Nói cho cùng, tuy là hơi phũ phàng: dù gặp nhau cũng không buộc phải chào hỏi, xin cứ như hai pháp nhân xa lạ…

Lòng buồn vô hạn, tai tôi ù đi như lạc vào vùng áp suất thấp, tôi không hiểu hết những lời ông nói, trong mơ hồ tôi thấy như luỡi ông chẻ hai hình luỡi rắn, thò ra thụt vào với cuờng độ bất thuờng: lúc nhanh lúc chậm.  Như con chuột đồng bị thôi miên mất khả năng tự vệ, trong cơn mộng du, tôi ký đại tất cả những gì ngón tay ông chỉ, không cần đọc.   Xong việc tôi quăng mạnh chiếc bút lên mặt bàn rồi chạy ra ngoài. Không chào hỏi ai.  Mẹ tôi tất tả chạy theo, đôi guốc phựt đứt quai, bà vứt luôn chiếc kia, hai chân líu tíu chạy theo đứa con hoang cả đời đã làm bà đau khổ.

Đời tôi bắt đầu rẽ sang một khúc ngoặt mới: vùng gió xoáy.

Trời ơi! Thế là mất tất cả!  Mấy năm qua thất nghiệp, tôi đã véo dần số tiền dành dụm.  Khi đồng tiền cuối cùng lê buớc chân ra đi cũng là lúc tình yêu cạn kiệt, tình yêu đành đứng ngoài cửa sổ:  nguời ấy đành bỏ rơi tôi giữa dòng đời gay gắt đấu tranh sinh tồn. Tôi lại trần trụi vào đời như em bé nằm nôi.  Bao năm tháng Chủng viện không hề chuẩn bị tôi vào đời, chỉ miệt mài dạy thế giới hoàn mỹ, gương nhân đức, tâm nhân ái, niềm Tin, Hy vọng…Tôi nhớ năm đầu tiên trong chủng viện, lớp 6, cha Giáo Nguyễn Công Danh (1) bắt chúng tôi học thuộc lòng đoạn văn “Tôi đi học” của Thanh Tịnh:

“Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đuờng rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu truờng.  Tôi không thể nào quên đuợc những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cuời giữa bầu trời quang đãng.
Những ý tuởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp duới nón mẹ lần đầu tiên đến truờng, lòng tôi lại tung bừng rộn rã.  Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm
 lấy tay tôi dẫn đi trên con đuờng làng dài và hẹp. Con đuờng này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng hôm nay tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học…. “

Ôi chao! Cuộc đời thơ mộng, đẹp biết bao !

Có ngờ đâu, 30 năm sau, chính tôi lại là cậu bé Thanh Tịnh ngày ấy, cắp sách buớc vào đời với tấm lòng thành thật, với quả tim chan chứa yêu thương….hăm hở buớc vào để chuốc thương đau.  Nhiều đêm tôi ứa nuớc mắt nhớ về kỷ niệm học trò trong Chủng Viện. Đời Tu lúc ấy chưa thành đuờng viền rõ nét mà sao nhiều lúc luyến nhớ đến da diết lạ thuờng.  Yêu bóng Nguyện Đuờng cổ kính phủ áo rêu phong.  Yêu con đuờng Cuờng Để rợp bóng cây sọ khỉ thẳng hàng ngay lối.  Yêu từng giọt mồ hôi: cha Nghiệp (2) cặm cụi sửa máy chiếu phim 35 mm cứ 2 phút phim lại bị đứt. Yêu vầng trán nhăn lõm sâu: Cha Tấn (3) cùng đàn con dúm dó giữa lúc chiến cuộc leo thang.  Yêu giọng nói êm nhẹ dịu dàng: Cha Hiếu (4) giờ nguyện gẫm một ngày mới vừa ló dạng…  Bây giờ tất cả đã lặng lẽ qua đi biết thế nào kể xiết… Nếu có ai đó viết văn ca ngợi các cha là những nhà giáo vĩ đại, thiên tài sư phạm… tôi nghĩ đó chỉ là những bài viết nịnh, viết để lấy lòng.  Giỏi thế nào bằng thế gian với muôn ngàn mánh khoé, các huấn trình Sư Phạm chuyên nghiệp…..  Các Ngài chỉ có tấm lòng vì lớp đàn em, vì Giáo Hội làm động lực nên đã tận tình giảng dậy.

Cuối năm lớp 10, hè 1974, quê hương tôi khắp nơi đỏ lửa, báo chí tràn lan tình hình chiến sự.  Mỗi ngày hàng ngàn thanh niên gục ngã.  Lệnh tổng động viên đôn quân xuống đến thanh niên 17 tuổi.  Nổi máu ngựa non háu đá, bỗng dưng thấy mình muốn khóc với quê hương.  Dù lòng vẫn muốn đi trọn đời tu, tôi cũng không muốn bị ai trêu trọc đồng nghĩa đi tu là trốn lính.  Tôi về nhà thông báo cho bố mẹ  biết là mình muốn chấm dứt đời tu.  Bố tôi nghe xong, ông không nói gì, chỉ lẳng lặng thở dài rồi đi ngủ.  Chiều hôm sau, bố rủ tôi đi chơi và đến Dòng Chúa Cứu Thế ở Kỳ Đồng.  Hai bố con đến vừa đúng lúc tan tầm Thánh Lễ.  Hàng ngàn nguời tràn úa ra về.  Ông chỉ tay rồi nói:

-Con hãy nhìn cho kỹ rồi quyết định huớng đi đời mình.  Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt tốt bao giờ cũng thiếu.  Đi tu không đồng nghĩa với trốn quân dịch.

Tôi thương bố tôi vô cùng.  Ông đã từng chia sẻ, kể với tôi nỗi trằn trọc truớc khi quyết định chuyển huớng sau nhiều năm theo đuổi Ơn Kêu Gọi của riêng đời ông.  Để sống đúng một đời nguời cho có ý nghĩa không phải là điều giản dị.  Băn khoăn không biết quyết định thế nào, tối hôm ấy tôi đạp xe xuống Bà Chiểu thăm một nguời bạn tu dòng cùng tuổi, gia đình nguời Bắc, cũng đang có ý định chuyển huớng như tôi.  Vừa buớc vào nhà chưa kịp chào hỏi, bà mẹ đã nói thẳng như tát vào mặt tôi:

-Cả anh nữa, hạng nguời như anh ra ngoài đời chỉ đáng ăn ve chó thôi.

Tôi sững sờ nguời không hiểu ất giáp gì, chào hỏi vội vã rồi ra về.  Mấy hôm sau, anh bạn đến gặp tôi xin lỗi rồi kể lại;

-Sau khi trình bày ý định xin thôi tu, có lôi tên cậu ra làm đồng minh, cả gia đinh tớ hoảng hốt, mẹ tớ xuống bếp, ít lâu sau bà trở lại bày ra hai cái bát truớc mặt tớ rồi bảo: “Tùy ý anh, nếu đi tu tiếp thì ăn bát cơm, còn như ý vẫn muốn ra ngoài đời thì hãy ăn bát ve chó. Trong xóm này không có tuần nào là không thấy chở vài chiếc quan tài về”.

Tôi hoảng hốt hỏi tới:

-Vậy cậu quyết định thế nào?

-Tớ lặng lẽ bưng bát cơm lên rồi nuốt từng hạt trong nghẹn ngào

Nghe kể chuyện, tôi gục xuống vì mệt mỏi.  Làm nguời sao lại khó thế này?  Khi đói, não bộ tụt thẳng xuống nằm trong bao tử.  Bao tử luôn thõng xuống thành hình chấm hỏi, bao giờ cũng đòi hỏi không lúc nào mãn nguyện.  Khó khăn sinh tồn hóa thân len lỏi vào từng tế bào bao tử ngày đêm co thắt não bộ.  Dằn vặt lương tâm.  Có lần kia tôi nói với mẹ:

-Con thà làm cánh chim đại bàng tung hoành bốn phương trời, đói no tự mình còn hơn làm thứ gà công nghiệp mặc sức huởng thụ, căng thẳng chờ ngày cắt tiết lúc không ngờ. Con sẽ nhất định luôn đứng thẳng! Cây ngay không sợ chết đứng.

Mẹ nhìn tôi mỉm cuời:

-Rồi sau này con sẽ hiểu: cây ngay mới hay chết đứng, chỉ có loại dây leo mới không bao giờ chết đứng

Tôi ra về và không bao giờ gặp lại nguời bạn ấy, không biết tại sao? Có thể giữa tôi và nguời bạn thân ấy đã hé lộ một vết nứt, tại ai tôi cũng không biết.  Có thể là từ phía anh, mà cũng có thể là từ nơi tôi.  Tôi không biết.  Hoàn toàn không.  Cũng có thể là do sức nén của chiến tranh đã chuyển dạng tốc độ nhanh. Sau này tôi nghe biết nguời bạn ấy đã tiến đến chức Linh Mục (5).  Sau ánh bình minh lấp ló của chức tuớc và quyền lực là một chuỗi thở dài vô tận.  Tôi thấy buồn cho một cuộc đời.

Năm ấy, trời vừa qua xuân, đang bắt đầu vào hạ. Duới ánh nắng hanh hanh xen kẽ lá, gió nhẹ mơn man mái tóc xanh, tôi đạp xe đến Chủng Viện băng qua những con đuờng rực lửa hoa phuợng.  Không nơi nào hoa phuợng vĩ nở đẹp bằng quê hương tôi.  Chủng Viện ngày hè nghe vắng lạ thuờng, các lớp đóng kín cửa, tiếng lá me xào xạc quét sân, chốc chốc mấy chú tắc-kè tặc luỡi khiến giật thót nguời, tôi lên phòng xếp dọn đồ đạc để mang về.  Năm năm truớc tôi ngơ ngác buớc vào Chủng Viện, hôm nay lòng trĩu nặng tôi rời khung trời kỷ niệm….  Cha Linh Huớng giúp tôi khiêng chiếc va-li màu da bò cài phía sau xe đạp, lủng lẳng treo tay lái là đôi giày ba-ta vẹt gót và cái xô nhôm giặt quần áo có ghi số danh bộ.  Cuộc chia tay nào bao giờ cũng buồn.  Ngài chậm rãi giơ tay chúc lành cho tôi rồi đứng nhìn tôi dắt xe xa dần.  Ra đến cổng, tôi bỗng dưng có ý định muốn đến hang đá Đức Mẹ lần cuối.  Tôi đứng lặng bên chiếc xe đạp khung ngang, ngước mắt nhìn lên Mẹ, tay lần túi lấy ra cỗ tràng hạt rồi bắt đầu lần chuỗi.  Nước mắt lưng tròng lung linh hôm nay tôi thấy Mẹ đẹp lạ thường, hiền từ thân thiện.  Quay một vòng tôi muốn nhìn quang cảnh trước khi ra đi, cảnh trí đươc thiết kế y hệt hang đá Lộ Đức miền nam nuớc Pháp, nơi Đức Mẹ hiện ra với em Bernađetta.

Trong mơ màng tôi nhớ đến một cuốn phim được xem đã lâu.  Cũng khung cảnh giống thế này có điều thơ mộng hơn, chuyện phim như sau:

Chị Phúc trong nhà dòng được Mẹ Bề Trên giao nhiệm vụ quét dọn hang đá Lộ Đức ngay lối vào tu viện.  Chị thích công việc này lắm vì yêu mến Đức Mẹ.  Một chiếc lá mới lìa cành bám chân Mẹ chị cũng trèo lên lượm cất đi, thấy lũ chim non buông thả làm bẩn bờ vai Mẹ chị cũng dặn “các em” cẩn thận đừng làm dơ tà áo Maria.  Chị Phúc hiền lành nhỏ nhẹ, chăm chỉ làm việc nên trong nhà Dòng ai cũng yêu mến chị….

Hạnh Phúc Thiên Đàng cứ như vậy từng ngày trôi qua cho đến một hôm khi quét trước hang đá chị thấy có vết máu loang lổ từng giọt chỗ nhiều chỗ ít.  Lần theo vết máu chị tìm thấy một người lính nằm co quắp dưới chân bàn thờ phía sâu trong hang.  Vẻ mặt sợ hãi anh van nài chị hãy cứu giúp đừng báo cáo ai và cho biết anh ta là một trung úy trong quân đội Hoàng Gia Anh, bị kẻ địch phát giác bắn gãy chân, đang bị truy lùng ráo riết, không biết trốn lối nào anh lết đại vào Tu Viện ẩn trốn.  Chị Phúc mềm lòng thương ngưòi cảnh hoạn nạn nên gật đầu ưng thuận.

Thế là từ đó hàng ngày, ngoài việc quét dọn hang đá, chị còn bí mật nuôi dưỡng anh thương binh trốn trong hang: băng bó, lau chùi vết thương, lén đem cơm nước nuôi anh….

Lúc vết thương từng ngày bình phục cũng là lúc tình yêu mỗi phút đơm bông.  Nét nhăn nhó vì đau đớn dần biến mất lột da thành nét đẹp kiêu hùng của người trai chiến sỹ.  Lời chàng khi nhẹ nhàng êm đềm thoảng gió như thơ, khi trào dâng dậy sóng thề thốt đá vàng, lấp phẳng đại dương, san bạt núi đồi…  Chị Phúc thấy tình yêu sao quá nhiệm mầu, lúc dịu dàng khi dồn dập bay qua bao lúa đồng mênh mông làm tim nàng nhiều lần lỡ nhịp, mơ màng uống từng lời ước hẹn.  Khi đã hoàn toàn bình phục, chàng rủ chị Phúc cùng trốn đi xây dựng yêu thương…..

Tôi nhớ đến khung cảnh đó và thấy thương cho chị găp khó khăn khi phải quyết định cũng như tôi bây giờ.  Cảnh trời trong phim lúc đó là một chiều chớm thu.  Bên cạnh hang Lộ Đức có một cây táo trái chín đỏ rợp trời.  Long lanh giọt nước mắt, loà xoà tóc mây sợi vắn sợi dài chị khóc.  Lúc âu yếm nhìn chàng, khi âu sầu nhìn Mẹ.  Sau cùng bằng những ngón tay mềm mại chị từ từ cởi chiếc áo dòng vắt trên cành táo nhờ Mẹ giữ dùm rồi trèo lên lưng con bạch mã ngồi sau lưng chàng trung uý hoàng gia chiến bào đỏ thẫm bay trong gió.  Mãi khi vó ngựa dồn bước đã xa rồi mà chị vẫn ngoái cổ nhìn về hang đá, mắt hoen lệ. Như viên đá xanh tìm quên giấc mộng lành Chị Phúc lăn vào dòng đời phiêu lãng.

Thói đời vẫn thế, thời gian sau, khi đã chán nàng. Không muốn bị ràng buộc thêm, anh ta bán chị cho động mãi dâm bắt phải tiếp khách hằng ngày.  Ở đây tôi không muốn kể dài về những nốt nhạc buồn của một con người đã bỏ Mẹ ra đi. Chỉ sau một thời gian ngắn mà tôi đã không còn nhận ra chị Phúc của ngày nào nữa.  Không còn là cánh hạc sương mai, chị gầy ốm, mắt quầng thâm, áo quần xơ xác.  Trong cơn hối hận cùng cực,chị lết về nhà dòng để xin lỗi Đức Mẹ. Khung cảnh vẫn là mùa thu trời ảm đạm, lác lác đây đó vài vạt nắng chiều nhạt màu đan kẽ lá, cây táo vẫn rực lửa trĩu cành trái chín.  Chiếc áo dòng đã treo hôm nào nay vẫn nguyên chỗ cũ.  Chị Phúc lấy xuống mặc vào rồi lết đến phòng Mẹ Bề Trên toan thú nhận mọi lỗi lầm.  Chưa kịp mở lời, vừa thấy chị, Mẹ Bề trên đã nói:

-Sáng nay Mẹ đã bảo con rồi, không cần phải quét dọn kỹ như vậy mà con cứ đòi làm.  Xem kìa, bụi bẩn bám đầy người rồi.  Con hãy đi tắm rửa rồi trở lại nguyện kinh với các chị em.  Ai cũng quý mến con.

Chỉ vài lời nghe qua, chị Phúc đã hiểu.  Tất tả chạy đến hang Lộ Đức, nhìn lên Mẹ Maria, không ngăn được dòng lệ, chị Phúc ào khóc thành tiếng rất thảm thiết…

Khóe mắt cay nồng, tôi ngước mặt nhìn Mẹ Maria lần nữa, rồi lại thêm một lần nữa tôi nhìn Mẹ thật lâu, thật kỹ.  Biết mình không có chiếc áo dòng để bỏ lại bên Mẹ, từ từ tôi lột bỏ đôi dép nhật, quai xanh đang mang nơi chân, đến dấu sau kè đá.  Ít nhất tôi còn cái gì gửi lại trước khi ra đi chứ.  Sau đó, với đôi chân trần, tôi dắt chiếc xe đạp thẫn thờ đi vào “thế gian”.

*******

Mãi cho đến hôm nay, khi viết dòng chữ này, tôi vẫn chưa bao giờ có dịp để trở lại nhìn lại khuôn mặt Mẹ tại hang đá Chủng Viện.  Không biết đôi dép tôi để lại có còn đấy không để chờ đợi ngày tôi trở về ?  Chắc là không vì đời tôi không còn như xưa nữa.  Đau khổ dồn dập đã lôi tôi xuống đáy vực thẳm.  “Người ấy” ham vui những giải sương mù mong manh đã bỏ rơi tôi giữa dòng đời trơ trọi.…

Lúc ấy, từ văn phòng luật sư bước ra tôi lái xe về thẳng căn nhà cũ.  Lạnh lẽo vắng tanh.  Lòng buồn vời vợi.  Đời tôi nào còn những gì.  Ý định chấm dứt cuộc đời không hiểu sao bùng dậy mạnh liệt trong tâm tư. Sợi dây treo quần áo nơi góc nhà ngày thường không bao giờ tôi để ý đến nay bỗng dưng có sức hút lạ thường, hình như có lúc tôi thấy nó như động đậy, trăn trở, mời gọi, thân mật…  Thật vậy lúc đó tôi như trong cơn mộng du, hư hư thực thực, vừa không nghĩ được gì lại vừa rất tỉnh táo để sắp xếp đi vào cõi chết.  Tôi lấy sợi dây ném qua thanh gỗ khung mái nhà, rồi từ từ thắt nút.  Ngày còn trong Hướng Đạo, thắt nút là môn học tôi sợ nhất vì dễ lộn, thế mà hôm nay loại nút nào tôi cũng nhớ từng chi tiết: nút dẹt, nút cột thuyền, nút ghế đơn, nút dây câu, nút thòng lọng, nút thợ dệt, nút thuyền chài, nút chân cừu, … Hôm nay tôi sẽ chọn nút thòng lọng làm đoạn kết cho cuộc đời mình.

Tôi kéo cái ghế đẩu đặt ngay dưới sợi dây.  Vẫn còn thấp, tôi đặt thêm cuốn Tự Điển Nguyễn văn Khôn trên chiếc ghế.  Chưa tới nơi, tôi leo xuống đặt thêm cuốn Kinh Thánh của cha Nguyễn Thế Thuấn.  May mắn biết bao vùa khít, chỉ cần nhón chân đá đổ chiếc ghế: đời tôi sẽ bước qua ngưỡng cửa đau khổ.  Khi đã chui đầu qua lọng dây, cảm giác chớm lạnh nơi cổ làm tôi nhớ lại câu chuyện bố tôi thường kể lại đã xảy ra trong trại cải tạo:

Hôm ấy người tù cải tạo từ nhà thăm nuôi trở về lán của mình, đầu anh cúi thấp, lầm lũi bước đi, lưng khệ nệ vác những túi quà tiếp tế đầy ắp.  Chỗ anh nằm ngủ gần với bố tôi nên ông quan sát rõ.  Người tù ngồi phịch xuống chiếc giường tre, mặt lầm lỳ, ai hỏi cũng không nói.  Ai xin gì anh cũng cho.  Mệt mỏi chồng chất của một ngày lao động khiến mọi người phải tranh thủ tìm kiếm giấc ngủ khi màn đêm vừa buông xuống.  Không ai để ý đến anh.  Nhưng nửa đêm hôm ấy nhiều người phải giật mình thức dậy vì cảm thấy như cả lán trại từng cơn bị lắc mạnh, như từng chập rào rào gió thổi, mái nhà ghép bằng liếp lá lâu lâu lại run lên bần bật….Sáng ra, mọi người mới phát giác người tù cải tạo mới nhận được quà tiếp tế ban sáng đã treo cổ tự tử ngoài hiên lán trại.  Mặt tím xanh, lưỡi thè dài, mắt trợn trắng, bên dưới bầy nhầy bài tiết ngổn ngang.  Nhà cửa rung chuyển, mái tranh xào xạc… là do những cơn co giật hấp hối của anh.  Vài nguời tù cùng được thăm nuôi hôm ấy kể là người vợ đã đến thăm anh lần cuối và xin phép để đi lấy chồng khác.  Cùng đường chị không biết làm cách nào để nuôi được cả đàn con vắng bố….Hoàn toàn không lối thoát.

Tôi thấy lạnh ngưòi khi nhớ lại câu chuyện bố tôi kể. Buồn biết bao kiếp làm người.  Còn bao người khổ hơn mình.  Tôi cũng chợt nhớ ra là hai hôm nữa sẽ là ngày sinh nhật của con gái tôi. Lẽ nào ngày sinh nhật con cũng là ngày cắt dây mang xác cha xuống, ngày nhìn thấy cha mặt xanh lè, cổ bầm tím.  Nghĩ đến đó tôi từ từ rút đầu ra khỏi chiếc thòng lọng và leo xuống ghế.  Không biết phải làm gì nghĩ gì, tôi lục túi lấy ra chiếc chìa khóa và lái xe ra bờ biển.

Đường đến biển dẫn ngang qua một ngôi thánh đường bé nhỏ.  Không hiểu sao tôi như bị thôi thúc nhất định phải ghé vào để nghỉ ngơi sau những dày vò lôi kéo của sự chết.  Tôi biết rõ ngôi thánh đường này cũng đang trên danh sách địa phận chuẩn bị rao bán.  Nhiều hàng ghế phủ bụi mờ.  Đám chim, dơi làm bẩn nhiều nơi.   Vị linh mục coi sóc giáo xứ trước đây hàng ngày dâng Thánh lễ nhìn xuống các hàng ghế lác đác chỉ thấy vài cụ già, rơi vào nỗi trầm cảm sau đó đã bỏ xứ đi biệt tích, có người thấy bảo ông đã hồi tục chuyển sang làm nghề khác (6).  Tượng Thánh giá vẫn còn đó chưa tháo xuống.  Tôi xót xa cho Đấng đã bị đóng đanh, bị bỏ rơi giữa đổ nát hoang tàn.  Sao Ngài giống tôi đến thế.  Tôi cứ ngồi và ngồi như thế cho đến khi vũ trụ hoàn toàn chìm vào đêm tối.  Trong sa mạc đêm đen tôi vừa gặp gỡ một người bạn đồng hành: Đấng bị đóng đanh, loáng thoáng tôi đã thấy ẩn hiện một sức sống hồi sinh, dù rất nhỏ nhưng cũng vừa đủ để tôi cảm thấy, lúc đầu là chán chường, sau đó là phẳng lặng như lỗ đen không gian, cuối cùng là những giọt nước mắt khi nhìn cây Thánh Giá bị bỏ rơi, bơi trong những giọt nước mắt ấy là những tế bào Đức Tin mang hình đôi dép nhật quai xanh đang thoi thóp nẩy mầm.  Thế rồi suốt một tuần, ngày nào tôi cũng đến ngôi thánh đường ấy, lúc đứng lúc ngồi, lúc nằm vạ vật.  Không ngờ trong tuần lễ ấy tôi đã giác ngộ để biết nhìn lại chính mình.  Bao nhiêu năm qua tôi đã ngụp lặn tự trói mình trong bể khổ mà không biết, tôi đã không thật sự yêu thương ai hết ngoài chính mình. Như ao tù nước đọng tôi đã chỉ yêu khuôn mặt của chính mình phản chiếu nơi đáy mặt giếng: môt tình yêu què quặt chất ngất thù hận căm hờn.  Tình yêu đích thật phải biết quên mình cho đi không đòi hoàn trả, yêu nhưng không đòi được yêu.  Yêu mọi người và chấp nhận bị bỏ rơi, chịu đóng đanh.  Hôm nay tôi mới “ngộ” được thứ tình yêu ấy, không còn oán hận. Tôi thấy hối hận và thương cho người vợ của tôi.  Có thể sau 28 năm chung sống tôi đã làm khổ nàng nhiều lần mà không biết.  Đã đến nước này tôi chỉ biết nguyện xin đời nàng luôn được hạnh phúc.

Bạn thân mến

Khi tôi viết bài này, tôi rất muốn đó chỉ là một câu chuyện giả tưởng như bao câu chuyện khác, nhưng rất tiếc đó lại là câu chuyện thật đã đến với tôi.  Tôi khởi đầu viết câu chuyện này từ năm ngoái nhưng vì xấu hổ, vì tự ái cứ viết được vài đoạn lại ngưng.  Đến hôm nay, do Thần Khí thúc đẩy tôi lấy hết can đảm để tự thú đời mình.  Lời lẽ Sách Giảng Viên (Gv 3, 1-8)giúp tôi đứng lên để mạnh mẽ chia sẻ đời mình: “Mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời ở dưới bầu trời: Thời để sinh và thời để giết, thời để trồng và thời để nhổ, thời giết chết và thời để chữa lành….”   Còn riêng tôi, thưa bạn, đã có thời hận thù, thời trong tận cùng đau khổ tôi nguyền rủa Thượng Đế, thù hận loài người, hôm nay lại đến thời tôi ngồi xuống dùng tất cả khả năng của mình để viết cảm tạ Tình Yêu của Ngài, Đức Giêsu Kitô đã bị bỏ rơi, bị nguyền rủa, bị đóng đinh…vì chúng ta.

Ôi Giêsu mến yêu của con. Con xin cảm tạ Ngài muôn đời.

(1) Cha giáo dạy Việt Văn, nay đang quản nhiệm Giáo Xứ Thị Nghè

(2) Cha giáo dạy Lý Hóa, nay đang quản nhiệm Giáo Xứ Tân Chí Linh

(3) Giám Đốc Tiểu Chủng Viện, nay đang phụ trách Cộng Đoàn Bác Ái Cao Thái

(4) Giám Đốc Tiểu Chủng Viện trước ngày cha Tấn du học trở về, nay đang nghỉ hưu tại Giáo Xứ Thủ Thiêm

(5) Viết bài này tôi không có ý đưa ra một phán xét nào: việc Thiên Chúa làm ai mà dò thấu.  Ngài kêu gọi bằng nhiều cách khác nhau: có người Ngài chỉ thẳng mặt kêu gọi, có nguời do nguời khác dẫn đến giới thiệu, có nguời đã “đến và xem“ rồi quyết định theo Thầy… tôi biết có nguời cùng dòng họ nhà trai đi hỏi vợ, đến nơi họ nhà gái nói lời khó nghe nên kéo nhau ra về, chàng trai đổi ý xin đi tu sau cũng làm linh mục.  Có nguời truớc chỉ có ý đi tu để trốn quân dịch, vào Chủng Viện học thấy hợp rồi quyết định làm linh mục.  Chắc chắn cũng có nguời tiến lên chức linh mục chỉ vì không còn lối thoát, vì bất đắc di, vì lẽ này lẽ nọ thế gian ưa thích.   Tôi nghĩ đó là những linh mục không bao giờ hạnh phúc.  Linh mục không còn trái tim.

(6) Một thí dụ: dân số Canada hiện nay là hơn 30 triệu, với 43 phần trăm là Công Giáo. Tỉ lệ Công Giáo là một chuyện, còn tỉ lệ pratiquants catholiques là một chuyện khác. Như ở Québec, hồi năm 1960 có 80 phần trăm nguời Công Giáo là pratiquants, đến năm 1996 chỉ còn 8 phần trăm, và hiện nay chỉ còn có 5 phần trăm.

Người tôi tớ vô dụng, Boston

(Viết thay cho một người bạn cùng lớp)

Đầu Xuân Nhâm Thìn

Tác giả gửi trực tiếp cho LTCG

Advertisements
Chuyên mục:Phút suy tư
  1. nguyenninh
    14.02.2012 lúc 18:27

    tôi chia sẻ đồng cảm với tác giả, và cũng rất thán phục nghị lực cũng như những trầm tư của tác giả

  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: