Trang chủ > Bình Luận > VI TRÙNG HANSEN VÀ… CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN

VI TRÙNG HANSEN VÀ… CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN

LTCG (23.02.2012) 

Nhà văn Võ Hồng có người bạn chung lớp vỡ lòng tên Hoạt. Ông Hoạt chỉ học đến lớp tư rồi phải ở nhà phụ giúp cha mẹ trong việc mưu sinh.

“Sau đó chừng bốn năm năm, một hôm không nhớ đang nói chuyện gì bỗng một người nhắc đến Hoạt. Giọng nói đang to bỗng chợt nhỏ đi, thì thầm như một tâm sự: “… Nó bị phung !”

Không ai chuẩn bị để nghe tin đó nên ai nấy đều có cảm tưởng mình vừa rùng mình. Chừng như người ta có quyền mắc một trăm thứ bệnh khác, điều đó không khiến ai ngạc nhiên, chứ bệnh phung thì không thể tưởng tượng được.

Cha nó phải dựng một cái chòi ở giữa đám dưa hấu ngoài soi để dấu nó ngoài đó, – lời người bạn kể. Nhưng lâu ngày rồi cũng bị lộ. Có người đâm đơn xuống huyện. Nhà Nước bắt chở đi…

Gần đây, do ngẫu nhiên mà tôi được tiếp xúc với một sư huynh quản đốc của một viện bài cùi. Bệnh cùi – lời vị sư huynh, – chúng tôi chữa lành được. Có nhiều bằng chứng cụ thể, có những tấm ảnh chúng tôi còn giữ lại để làm tài liệu, tấm ảnh chụp người bệnh khi nhập viện và khi xuất viện”.

Tôi dè dặt trong cuộc đối thoại: “Người ta nói rằng thuốc Sulfon chỉ giữ cho bệnh không tăng thêm chứ chưa thể… “ Tôi hiểu sự hoài nghi của ông. Cố nhiên là khoa học có nhiệm vụ và có khả năng đi tới không ngừng…

Tôi nghĩ đến anh Hoạt liền ngay lúc đó và những ngày sau đó. Sao anh sinh ra đời chi sớm những ba mươi năm. Có gì đâu để mà vội vàng ? Anh đã hưởng gì ở cuộc đời ? Nghe một tiếng chim tu hú vào đầu mùa Hè, ngửi một mùi thơm của hoa mù u trong buổi chiều, nhìn những con chuồn chuồn đảo lộn trên nền trời sau cơn mưa… những niềm vui đó quá nhỏ nhoi với nỗi khổ đè nặng của anh. Giá cứ thong thả, giá cứ đến chậm chậm một chút để kịp cho nhân loại dẹp bớt những khổ não. Giá anh sống lùi lại ba mươi năm, năm mươi năm...” ( Võ Hồng. ”Hãy đến chậm hơn nữa”. Trầm Mặc Cây Rừng. Lá Bối: Sàigòn, 1971 ).

Sự lạc quan của nhà văn Võ Hồng, một người sinh trưởng hồi đầu thế kỷ 20, hoàn toàn chính đáng. Khoa học ( nói chung ) và y học ( nói riêng ) quả đã có tiến bộ và đạt được nhiều thành quả tột bực trong mấy thập niên vừa qua. Ngày nay, cùi hủi không còn phải là thứ căn bệnh hiểm nghèo – vô phương chữa trị – như trước nữa. Vi trùng Hansen chỉ còn có thể hoành hành ở vài nơi xa xôi, và tối tăm trên mặt đất này thôi.

Việt Nam, thương thay, lại là một trong những “nơi xa xôi và tối tăm” như thế. Rải rác trên xứ sở này, vẫn còn những bệnh nhân phong cùi ( sống lẩn lút như những con thú hoang ) nơi những góc rừng heo hút – theo như lời kể, với nước mắt đầm đìa, của Linh Mục Nguyễn Văn Đông:

Có lần, anh chị em có biết là tôi lội bộ 12 cây số để vào thăm một buôn người dân tộc, họ có tục lệ là đối với người bị phong cùi, làng sẽ cất nhà riêng trong rừng cho ở, không cho ở chung. Mà đồng bào nghèo quá, khổ quá, nên ngay cái nhà họ ở đã không ra cái gì, giờ thì lại cất nhà cho người cùi ở, thật ra không thể gọi là nhà, phải gọi là ổ mới đúng, chỉ một mùa mưa đã nát. Mỗi lần đến thăm họ, tôi phải cúi đầu lom khom mới vào ‘nhà’ họ được. Thấy tôi đến, họ mừng lắm anh chị em à. Họ cứ nhìn tôi họ cười, họ nói Bab đến thăm con là quý lắm, mừng lắm. Họ cười mà tôi khóc, anh chị em ơi. Họ nghèo quá, lại cùi, nên tôi tặng họ vật gì của Giáo Dân góp cho tôi, là họ mừng lắm, cứ giữ khư khư ép vào ngực như sợ bị mất đi.”

Trong một dịp khác, Linh Mục Nguyễn Văn Đông cũng đã tâm sự với đặc phái viên Thanh Trúc ( RFA ) là “ông đã khóc trong một ngày mưa rừng gió núi lội đi thăm một gia đình cùi. Cả nhà người Thượng ấy, hai người lớn ba đứa nhỏ nheo nhóc, lở lói nằm chui rúc dưới một tấm bạt bằng mủ rách nát tả tơi.”

Theo Wikipedia: Hiện nay ở Việt nam, con số bệnh nhân phong cùi tiềm tàng có từ 120.000 đến 150.000, 23.371 đã được chữa lành, 18.000 còn biểu hiện di chứng, tỷ lệ mắc phải 0,1/10.000 ( 1/100.000 dân ), tổng số làng phong đếm được là 13.” Xin liệt kê:

01.  Bến Sắn, thành lập năm 1959 tại tỉnh Bình Dương, có 39 hộ với 664 bệnh nhân.

02.  Bình Minh, thành lập năm 1974 tại tỉnh Đồng Nai, có 295 hộ với 141 bệnh nhân.

03.  Cẩm Thủy, thành lập năm 1967 tại Thanh Hóa, với 70 bệnh nhân.

04.  Di Linh, do Đức Cha Jean Cassaigne ( 1895-1973 ), Hội Thừa Sai, thành lập năm 1927 tại Lâm Đồng, có 30 hộ với 150 bệnh nhân.

05.  Đakkia, thành lập năm 1920 tại Kontum, với 373 bệnh nhân.

06.  Phú Bình, thành lập năm 1960 tại Thái Nguyên, có 200 hộ, với 105 bệnh nhân.

07.  Phước Tân, do Hội Thánh Tin Lành và các mạnh thường quân Na Uy thành lập năm 1968 tại tỉnh Đồng Nai, với 270 bệnh nhân.

08.  Quả Cảm, thành lập năm 1913 tại Bắc Ninh, với 257 bệnh nhân.

09.  Quy Hòa, do cha Paul Maheu thành lập năm 1929 tại Quy Nhơn, có 365 hộ. Ngày 3.3.1930, một buổi diễn thuyết được bác sĩ Lemoine và cha Maheu tổ chức ở Sàigòn, do các Giám Mục Địa Phận Sàigòn ( Dumortier ), Quy Nhơn ( Tardieu ), Gouin ( Lào ) và Blois ( Thẩm Dương ) bảo trợ ngõ hầu vận động đóng góp tài chánh cho công trình xây dựng trại phong Quy Hòa cho hơn 1.500 bệnh nhân. Sau đợt này, Nhà Nước thuộc địa cũng vận động sáng lập một trại khác ở Cù Lao Rồng ( Mỹ Tho ), đến năm 1971 thì giải thể, dời ra Quy Hòa.

10.  Quỳnh Lập, thành lập năm 1957 tại Quỳnh Lưu, với 300 bệnh nhân.

11.  Sóc Sơn, gần Hà Nội, có 31 hộ.

12.  Thanh Bình, thành lập năm 1967 tại vùng ngoại ô Sàigòn, có 105 hộ với 357 bệnh nhân.

13.  Văn Môn, thành lập năm 1900 tại Thái Bình, coi như lâu đời nhất ở miền Bắc, có 366 bệnh nhân.

Theo tường trình của Linh Mục Đinh Thanh Bình, sau chuyến đi thăm Việt Nam vào năm 2002, con số trại phong hiện nay đã tăng gần gấp đôi:

Trên danh nghĩa hiện thời, Nhà Nước quản lý 21 trại cùi ở Việt Nam. Tuy nhiên ban điều hành các trại đa số vẫn là do các Nữ Tu đứng đầu… Trại phong Di Linh hiện giờ có 350 bệnh nhân, nhưng chỉ có 147 người đủ tiêu chuẩn trợ cấp 15 Úc Kim một tháng của chính quyền. Số còn lại 200 người thì “mặc kệ tụi mày, sống chết mặc bay, tao không cần biết”. Nhà Nước chỉ giỏi cướp công, mỗi lần đưa phái đoàn ngoại quốc đến thăm để xin tiền, Nhà Nước sẽ đưa tới Di Linh, vì Di Linh là một trọng điểm kiểu mẫu. Xin được bao nhiêu, vô túi ai không biết, vì Di Linh không hề nhận được thêm đồng cắc nào. Tôi rời Di Linh, để lại thêm một số tiền, ít ra cũng nuôi được vài bữa cơm qua ngày cho 200 người cùi thiếu tiêu chuẩn không biết làm sao mà sống được cho đến mùa Tết tháng sau.”

Khác với thời còn thuộc địa ( hễ nghe ở đâu báo có bệnh nhân phong cùi là Nhà Nước cho người đến bắt đưa vào trại ), chính quyền Cách Mạng – xem chừng – không bận tâm gì lắm về sự hiện diện của những nạn nhân bệnh phong cùi, dù họ sinh sống ở bất cứ nơi đâu. Muốn biết phần lớn những bệnh nhân phong cùi ở Việt Nam sống chết ra sao, xin xem qua hoạt động của vài tổ chức thiện nguyện như Southeast Asian Relief AssociationHội Từ Bi Quan Thế ÂmHội Bạn Người Cùi. Xin dẫn lời của một trong những vị lãnh đạo các tổ chức này:

Qua các Nữ Tu cũng như các Linh Mục, trong đó có cha Đông, hội giúp nhiều lãnh vực như tiền ăn hàng tháng, xây trạm xá, làm nhà lưu trú cho các em mà bố mẹ chết, rồi giúp vốn trồng trọt canh tác cho họ tự túc, giúp những tủ thuốc di động để những Nữ Tu Dòng Phaolô đi vào những buôn làng thì mang theo cái tủ thuốc di động để băng bó và cho thuốc.

Từ đó màchúng tôi xuất phát ra những buôn làng khác. Năm nào Hội cũng về và cũng đi một dọc như vậy. Trong suốt mười bảy năm qua chúng tôi làm việc rất chặt chẽ với các xơ, các Linh Mục hay những người tu hành đang phục vụ cho những bệnh nhân phong.”

Vào cuối thế kỷ trước, khi mà Chủ Nghĩa Cộng Sản bắt đầu bước vào giai đoạn thoái trào, một công dân Việt Nam, ông Hà Sĩ Phu, đã có nhận xét rằng: “Chủ nghĩa Mác-Lê suy tàn, chạy về cố thủ ở những vùng còn ít ánh sáng dân chủ, nơi mà tư tưởng phong kiến vẫn cứ sống lai rai trong núi rừng châu Á hết đời nọ sang đời kia.” Sau khi bị tấn công ở khắp nơi trên thế giới, đám vi trùng suy tàn Hansen cũng tìm một lối rút tương tự: chạy về cố thủ ở những vùng còn ít ánh sáng… sống lai rai trong núi rừng châu Á hết đời nọ sang đời kia.” ( Ảnh chụp của Hội Từ Bi Quan Thế Âm: Trẻ em phong cùi ).

Sự tương hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lê suy tàn và đám vi trùng Hansen suy yếu tạo ra một viễn tượng ảm đạm cho những bệnh nhân phong cùi ở Việt Nam.

Dù vậy, ông Nguyễn Văn Công, Hội trưởng Hội Bạn Người Cùi vẫn hết sức lạc quan:Do là người ta có uống thuốc cho nên tình trạng co rút chân tay hay mắt mù đi thì cái đó bây giờ tỷ lệ rất thấp. Sở dĩ những người cụt chân cụt tay là vì bị mà không có thuốc uống. Hy vọng thời gian không lâu nữa công việc của chúng tôi sẽ hoàn tất, tương lai là bệnh phong sẽ bị tiêu diệt.”

Niềm hy vọng này của ông Công khiến tôi gợi nhớ đến sự tin tưởng và lạc quan ( tương tự ) của nhà văn Võ Hồng, từ hơn nửa thế kỷ qua, mà không khỏi thoáng chút ngậm ngùi và cay đắng ! Bao giờ mà những người Cộng Sản còn cầm quyền ở Việt Nam thì dốt nát, đói nghèo, bệnh tật vẫn còn có thể hoành hành ở đất nước này – bất kể những thành tựu, hay tiến bộ chung của nhân loại có vượt xa đến đâu chăng nữa…

TƯỞNG NĂNG TIẾN

Theo EPHATA số 497

 
   

  

Advertisements
Chuyên mục:Bình Luận
  1. N T D
    23.02.2012 lúc 11:21

    Rất buồn vì sự yếu kém của nước nhà. Nhìn thấy rõ một sự nóng vội, ăn non. Bởi khi một dự án được thành lập, triển khai, rồi đưa vào hoạt động, thì quá trình đó đi đâu cũng bị “Đòi Hỏi”. Tiền đầu tư như vậy cũng mất một lượng không nhỏ đáng lý chỉ dành cho đầu tư, kinh doanh. Cái mất mát này rất đáng lên án, bởi nếu không bị chặt chém, “đòi hỏi” thì người đầu tư đã có đủ tiềm lực để chọn máy móc, công nghệ, nhân công cao cấp hơn, có khả năng cạnh tranh hơn với bên ngoài. Nhưng vì những chặt chém, ăn non này của cơ chế, làm doanh nghiệp không có khả năng chọn lựa những thứ tiên tiến, hiện đại, cao cấp hơn, và hữu ích hơn. Đồng nghĩa với việc ăn non, tạo ra lạc hậu, tạo ra tiêu cực. Đó là kinh tế. Kinh tế kém, sản xuất kém, thì làm môi trường sống bị ô nhiễm,… Mà đến đời sống xã hội cũng ô nhiễm. Đó là nhân quả, là hệ lụy của ăn non.
    Lại nói về buồn. Buồn vì ai đó “Giá Mà” đừng chặt, đừng chém, đừng băm các tư nhân, các nhà đầu tư chân chính. Để giúp cho người đầu tư có thêm những ngân khoản chưa bị chặt chém, và mang chúng ra đầu tư hiệu quả, tiến bộ. Cũng buồn vì không có sự hỗ trợ lớn cho các ngành sản xuất của tư nhân. Vậy thì có nghĩa hỗ trợ, ưu đãi sẽ không dành nhiều cho tư nhân. Còn khi thu các khoản phí của tư nhân thì lại rất cao. Vậy là tư nhân là nhóm đóng góp lớn cho xã hội, nhưng ưu đãi cho họ chẳng tương xứng.
    Cách quản lý hiện nay của tư nhân thì luôn năng động, dễ thích nghi, không cồng kềnh, không lãng phí. Còn cách quản lý của các nhà quản lý nước nhà thì nhiều kẽ hở, nhiều thất thoát, và nhiều khi ngược lại hẳn với cách quản lý của tư nhân. Vì cách quản lý như vậy, nên khoản thu phí từ tư nhân là rất lớn, nhưng những dự án lấy từ những khoản thu phí này khi sử dụng vào các dự án công (nhà nước) lại rất lãng phí. Cái kẽ hở, lãng phí đó là cái nguồn gốc nhanh nhất tạo ra chênh lệch giàu nghèo trong xã hội. Bởi tư nhân làm ăn chân chính, vất vả, chiếm đa số trong xã hội thì tốc độ giàu lên rất chậm, nhưng những sân sau được kẽ hở, dễ dãi, lãng phí, kém cỏi kia lại sinh ra, thì tuy là thiểu số, nhưng thiểu số này lại giàu lên rất nhanh chóng. Đó là một bất công, một nghịch lý lớn trong nước nhà.
    Việc ăn non này còn thể hiện rõ trong cách giáo dục đào tạo, và tuyển dụng nhân lực. Nhân lực giỏi thì doanh nghiệp nào cũng cần, cũng muốn, họ muốn ít phải đầu tư trau dồi, đào tạo cho nhân lực, nhưng lại có sẵn những nhân lực giỏi để sử dụng. Biết là đào tạo, trau dồi cho nhân lực là tốn kém, nhưng tư nhân vẫn sẵn sàng đào tạo. Nhưng những sân sau do được cơ chế rộng thoáng, nên chẳng chịu bỏ các khoản phí tổn cần thiết để đào tạo nhiều nhân lực tài giỏi, trung thành. Chính khi thiếu vắng nhân lực tài giỏi, cũng chính là khi làm yếu cho hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước.
    Việc nói lên nỗi buồn này đồng nghĩa với việc “Nhìn Thấy và Đau Lòng” vì cách đào tạo nhân lực, cách sử dụng nhân lực của nước nhà. Giá mà có nhiều nhân lực giỏi, nhiều nhân lực sẵn sàng làm đúng lương tâm, lẽ phải được đào tạo, được sử dụng hợp lý, thì nước nhà đã không phải chịu sự yếu kém về kinh tế, văn hóa, xã hội như hiện nay. (Những điều trông thấy mà đau đớn lòng).

  2. Tổng Thống Nông Đức Mạnh
    23.02.2012 lúc 12:27

    Cựu Tổng bí thư đảng Cộng sản Liên Sô Gorbachev đã nhận thức và phát biểu: “Tôi đã bỏ nửa cuộc đời cho lý tưởng Cộng Sản. Ngày hôm nay tôi rất đau buồn mà nói rằng: Đảng CS chỉ biết tuyên truyền và đối trá”;
    -Cố Tổng Thống Nga Boris Yelsin phát biểu: “CS không thể nào sửa chữa, mà cần phải đào thải nó”;
    -Cựu Tổng Thống Nga, Putin phát biểu: “Kẻ nào tin những gì CS nói là không có cái đầu. Kẻ nào làm theo những gì Cộng Sản là không có trái tim”
    Toàn là những lời phát biểu chân thành và có giá trị thực tiễn của những người từng là cấp lãnh đạo của các nước Cộng Sản và sau đây, với kinh nghiệm già dặn về Cộng Sản:
    -Cố Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu cũng đã phát biểu:“Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng Sản làm”.
    Ý của những câu nói trên đã nói lên chế độ Cộng Sản là một chế độ xấu xa, bỉ ổi, tuyên truyền láo lếu, nói một đường làm một nẻo, vô liêm sĩ, lừa mị nhân dân, dùng búa liềm và súng đạn đàn áp, cai trị nhân dân. Tóm lại, đảng Cộng Sản không có tình người và những đảng viên Cộng Sản cuồng tín là những người đáng ghê tởm.
    Khi chế độ Cộng Sản Trung Quốc sụp đổ, thì ba nuớc Việt Nam, Bắc Triều Tiên và Cuba sẽ tự động đốt cờ Búa Liềm và quay lưng 180 độ ngay tức khắc.

  3. Tổng Thống Nguyễn Văn Thành
    23.02.2012 lúc 13:18

    Cựu Tổng bí thư đảng Cộng sản Liên Sô Gorbachev đã nhận thức và phát biểu: “Tôi đã bỏ nửa cuộc đời cho lý tưởng Cộng Sản. Ngày hôm nay tôi rất đau buồn mà nói rằng: Đảng CS chỉ biết tuyên truyền và đối trá”;
    -Cố Tổng Thống Nga Boris Yelsin phát biểu: “CS không thể nào sửa chữa, mà cần phải đào thải nó”;
    -Cựu Tổng Thống Nga, Putin phát biểu: “Kẻ nào tin những gì CS nói là không có cái đầu. Kẻ nào làm theo những gì Cộng Sản là không có trái tim”
    Toàn là những lời phát biểu chân thành và có giá trị thực tiễn của những người từng là cấp lãnh đạo của các nước Cộng Sản và sau đây, với kinh nghiệm già dặn về Cộng Sản:
    -Cố Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu cũng đã phát biểu:“Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng Sản làm”.
    Lãnh đạo cấp quốc gia mà xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam gọi là Bộ Chính Trị với 14 đảng viên cộng sản, là cơ quan quyền lực tuyệt đối. Bởi trong hệ thống tổ chức không có cơ quan nào kiểm soát, vì vậy mà nhóm lãnh đạo quyền lực này tự đứng trên Tổ Quốc, trên Dân Tộc, trên Quốc Hội, trên hệ thống Nhà Nước, và trên hệ thống Tư Pháp. Đã có lần ông Nguyễn Văn An khi giữ chức Chủ Tịch Quốc Hội, trong lúc quá bực tức đã phát biểu: “Bộ Chính Trị là 14 ông vua tập thể!”

  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: