Trang chủ > Bình Luận > NHỮNG BÀ MẸ VIỆT NAM

NHỮNG BÀ MẸ VIỆT NAM

LTCG (11.03.2012)

“Vui ra đi rồi không ước hẹn ngày về,
ai quên ghi vào gan đã bao nguyện thề.
Nhìn chân trời xanh biếc bao la,
người mong chờ vẫn nhớ nơi xa.
Bao nhiêu năm bồng con đứng đợi chồng về,
bao nhiêu phen thời gian xóa phai lời thề.
Người tung hoành bên núi xa xăm,
người mong chồng còn đứng muôn năm.”

( Hòn Vọng Phu – Lê Thương )

Có lẽ nhiều người Việt Nam đều biết và yêu mến bài trường ca bất hủ “Hòn Vọng Phu”. Tác phẩm đã đưa tên tuổi cố nhạc sĩ Lê Thương cùng danh ca Thái Thanh đi vào hùng sử âm nhạc. Hồi còn đi học phổ thông, chúng tôi đang ở cái tuổi mơ mộng, vài đứa bạn đã nhỏ biết bao nước mắt cho người chinh phụ, hay cho gia đình mình vì nhiều bạn có cha là quân nhân lúc học về “Chinh Phụ Ngâm Khúc” của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm trong chương trình Văn Học lớp Đệ Tam ( lớp 10 ):

“Thuở trời đất nổi cơn gió bụi.

Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên”.

Khi được nghe trường ca Hòn Vọng Phu, nỗi buồn lo thời chiến vụt tan biến, chỉ thấy nét đẹp bi hùng, bài ca như dòng sử thi hào hùng của dân tộc. Hình tượng người phụ nữ Việt Nam vụt sáng giữa vó ngựa vang rền, chiến bào tung bay trong gió, bóng chinh phụ dõi mắt trông nơi sa trường, ngàn dâu xanh ngắt một mầu dài thương nhớ chờ đợi… hàng nghìn năm… nghìn năm để rồi hóa đá. Trường ca dẫn ta đi thăm mọi miền đất nước những địa danh, ngọn núi, hòn đá mang hình người đàn bà bồng con chờ chồng gắn với huyền sử nước non, nổi tiếng nhất là hòn Vọng Phu trên núi Tô Thị ở Lạng Sơn:

“Ðồng Ðăng có phố Kỳ Lừa.
Có nàng Tô thị, có chùa Tam Thanh”.

Khánh Hòa với núi Mẫu Tử, giáp ranh xã Krong Hin, huyện Mơ Ðrắc, cao 2.051 mét, ngọn núi này cao nhất Khánh Hòa, chóp núi là một khối đá hoa cương khổng lồ, bên cạnh có một khối nhỏ hơn, trông xa tựa hình người, đứng xa 40km vẫn rõ như hình ảnh mẹ bồng con ngóng ra biển Ðông:

“Bồng con ngồi dựa trên non.
Trăng thu vằng vặc dạ còn nhớ trông”.

Núi Nhồi ( Thanh Hóa ), đá Bà Rầu ( Quảng Nam ), núi Bà ( Bình Ðịnh ), đá Bia ( Tuy Hòa )… Những hòn Vọng Phu ấy trở thành hình tượng đẹp đầy tính nhân văn, ca ngợi lòng chung thủy hy sinh cao cả của người phụ nữ Việt Nam. Có ai trong chúng ta mà chưa từng được nghe câu hát ru ngọt ngào của mẹ, cổ tích thần tiên nuôi ước mơ từ tấm bé của bà, bàn tay mẹ tảo tần bao năm tháng cho hồn ta lớn bay bổng vào đời… Từ trong nguồn mạch dạt dào ấy, người phụ nữ kết tinh của non nước ngàn năm, đề tài Mẹ chưa bao giờ vơi trên đầu ngọn bút, cạn trong câu ca, áng văn tuyệt tác, qua nhiều thời đại khác nhau, với mỗi người, Mẹ là trường ca bất tận về tình yêu thương vô bờ bến:

“Mai rồi con lớn khôn,
Trên đường xa nắng gắt.
Lời ru là bóng mát.
Lúc con lên núi thẳm,
Lời ru cũng gập ghềnh.
Khi con ra biển rộng,
Lời ru thành mênh mông”.

( Lời Ru Của Mẹ – Xuân Quỳnh )

Ngay từ thời lập quốc, cuộc khởi nghĩa ( năm 40 Canh Tý ) Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị, người huyện Mê Linh ( Phúc Yên ngày nay ) đánh đuổi Thái Thú Trung Hoa là Tô Định về nước, lấy được một số thành trì, tự xưng Vương, đóng đô ở Mê Linh. Hai Bà Trưng được sử sách ghi lại là người địa phương Giao Châu đầu tiên, lập chiến công chống lại bạo quyền Đông Hán, thoát khỏi ách thống trị của Bắc Triều. Hai Bà lãnh đạo nền độc tự chủ trong vòng 3 năm, sau hơn 200 năm đắm chìm dưới ách đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc:

“Một xin rửa sạch nước thù.
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng.
Ba kẻo oan ức lòng chồng.
Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này”.

Có lẽ trời sinh ra người phụ nữ có trái tim đa cảm nên phải chịu đựng nhiều. Đất nước Việt Nam chiến tranh triền miên nỗi đau càng chồng chất. Chiến tranh rồi cũng qua đi nhưng hậu quả để lại dường như vẫn đọng lại đâu đây. Thiệt hại về chiến tranh vô cùng to lớn, song có lẽ sự mất mát chồng con của những bà mẹ, người vợ là vết thương lòng khó lành nhất. Trong cuộc chiến tương tàn hai miền Nam – Bắc, khoảng 5 triệu người đã chết, trong đó gần hai triệu người trực tiếp cầm súng hy sinh và mất tích. Đó là con số tạm thống kê, thực sự chắc lớn hơn nhiều, số thương vong nói lên trọn vẹn tình cảnh và cuộc đời vui buồn theo vận nước của người phụ nữ Việt Nam: “Xưa tiễn chồng đi rười rượi tóc xanh, nay tiễn con đi mẹ đã lung linh đầu bạc” hình ảnh các Mẹ, các chị em quên tuổi xuân hiến mình cho đất nước những người thân yêu nhất.

Cuộc chiến Việt Nam dưới góc nhìn nào vẫn nổi bật những người Mẹ, người vợ… nhẫn nhục hy sinh vô bờ bến. Khoảng gần 50.000 người được tặng danh hiệu “Bà Mẹ Anh Hùng”. Tượng đài Bà Mẹ Anh Hùng lấy nguyên mẫu bà Nguyễn Thị Thứ, quê xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, có 9 người con trai, 1 con rể, 2 cháu là Liệt Sĩ. Trong tượng đài đó sẽ ghi danh 50.000 tên Bà Mẹ Anh Hùng trong cả nước. Những Bà Mẹ ấy đã không được đền bù xứng đáng, đời thường vẫn lây lất thiếu thốn cơm áo bệnh tật. Cả cuộc đời hy sinh chồng con dường như giờ đây họ vẫn còn bị lợi dụng. Con gái mẹ Thứ là bà Lê Thị Trị ( nay đã ngoài 80 tuổi ) cũng được Chủ Tịch Nước trao tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng vì có chồng và hai con gái là liệt sĩ. Nói về việc xây tượng đài tốn hàng trăm tỷ đồng, mẹ Trị bộc bạch: “Ban đầu khi nghe tỉnh chọn hình ảnh mẹ tôi làm mẫu để xây dựng tượng đài, tôi xúc động nhiều lắm. Nhưng mà bây giờ xây tượng đài tốn nhiều tiền quá, nơi chín suối chắc mẹ tôi cũng không vui gì đâu”.

Nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã phải thốt lên lời thơ ai oán cho Mẹ Châu Thị Thứ, bà Mẹ Liệt Sĩ được trao tặng “Bà Mẹ Anh Hùng” tại Quảng Nam, địa phương vốn sđược coi là có truyền thống cách mạng, ( mời xemhttp://xuandienhannom.blogspot.com/2011/11/ay-noi-tho-phung-me-viet-nam’-anh-hung.html )

“Mẹ Việt Nam Anh Hùng,

có phải mẹ không Châu Thị Thứ (?)
Sao đìu hiu, hoang vắng đến lạnh lùng.
Nơi thờ mẹ là mái chòi nhỏ hẹp
Con nhìn vào cứ ngỡ Miếu cô hồn”.

Những bà Mẹ khác trong gần 50.000 bà Mẹ Anh Hùng hoàn cảnh ra sao ! Trong đó chắc chắn nhiều bà Mẹ đã bao bọc chở che những “đồng chí” lãnh đạo hiện nay, có mấy ai nhìn lại các bà Mẹ khi đã qua cầu rút ván ! ( Ảnh chụp di ảnh bà Châu Thị Thứ đặt trong mái chòi tiêu sơ trên đất nhà hàng xóm ở Tam Kỳ, Quảng Nam ).

Cho dù có những chính sách đãi ngộ cũng không thể đền bù đủ những mất mát của họ. Bổn phận đối với đất nước là nhiệm vụ của mỗi người công dân yêu nước là lý tưởng dấn thân của bao người ngã xuống cho đất nước trường tồn đến hôm nay:

“Khi vì nước hy sinh không ai nghĩ để thành nhân vật lịch sử.
Đã cống hiến đời mình không ai nghĩ tiếc tuổi xuân.
Song không thể nhắm mắt yên phần khi nhìn lũ vong ân trâng tráo.
Một bọn người mang mặt dã nhân đang cắn ngập răng vào số phận những anh hùng”.

( Con Mẹ Thứ )

Đó là chưa thống kê biết bao bà Mẹ miền Nam bị quên lãng, những bà mẹ vất vả nuôi con ăn học, đi nuôi con trong các trại tù cải tạo, khi con trở về, họ lại ngậm ngùi xa con mong con có một tương lai, khi đất nước này không cho họ cơ hội cống hiến. Cố nhạc sĩ Nhật Ngân đã viết bài hát “Xuân này con không về” với tâm trạng người lính nơi xa không về ăn Tết cùng Mẹ thời chinh chiến: “Nếu con không về chắc Mẹ buồn lắm”. Khi thanh bình người con xa Mẹ, quê hương bỏ lại chưa kịp về thăm thì Mẹ hiền chẳng còn: “Mẹ ơi ! Bao mùa xuân đến, bao lần con mong mỏi ngày về, Xuân này con về quê tìm Mẹ, thì Mẹ giờ đã ra đi…” ( Xuân này con về Mẹ ở nơi nao – Nhật Ngân ).

Những người vợ gánh giang san thay chồng nuôi chồng tù thăm thẳm, nuôi con vất vả vẫn thủy chung đợi chờ, ngày đoàn tụ vẫn còn xa xăm:

“Nàng Tô Thị Việt Nam.
Thờ chồng nuôi tằm dệt vải.

Trái tim em dòng thủy chung vẫn đỏ.
Vẫn mặn nồng như thuở mới yêu nhau”.

( Trần Trung Đạo )

Những tiếng cô nhi quả phụ, tổ phụ, Mẹ liệt sĩ… làm ta dễ chạnh lòng, hình dung được ngay những mảnh đời kém may mắn trong các gia đình thiếu vắng người chồng, người cha, người trai trẻ trụ cột, mái ấm thiếu trọn vẹn niềm vui, tuổi thơ tủi buồn lặng lẽ, tuổi già đơn côi.

Chiến tranh qua đi hòa bình đến những tưởng không còn cảnh những bà Mẹ chờ đợi mỏi mòn con trong các nhà tù, người vợ héo mòn tuổi xuân chồng mất sớm, nhưng không, hình ảnh Kim Tiến, Kim Tuyền… nạn nhân của bạo quyền, pháp luật tùy tiện, họ đã gặp nhau trên đường đi tìm công lý: “Chúng tôi không kịp nói lời nào vì sau đó cả ba cùng đồng hành trên một con đường giữa thành phố Hà Nội để đi tìm hai chữ “công lý”… Lúc đó tôi tự nhủ trong lòng mình tại sao tôi và em phải gánh chịu những tang thương và đau đớn mất mát quá lớn như thế này. Chúng tôi cần có một bờ vai để làm điểm tựa, cái điểm tựa ấy chúng đã cướp mất. Chúng quá dã tâm, tàn bạo để giết hại những người thân của chúng tôi để rồi giờ đây con mất cha, vợ mất chồng, cha mẹ mất con” ( Chia buồn cùng Kim Tiến ngày giáp năm chú Tùng 25.2.2012 – Thanh Tuyền ).

Còn với Kim Tiến, người con gái can đảm nuốt lệ vào tim, gánh nỗi đau gia đình chung nỗi đau của dân tộc, sáng ngời niềm tin cho mọi người:

“Trịnh Kim Tiến

Ngày em mang Tổ Quốc xuống đường chống Trung Cộng.
Cả Hà Nội tràn ngập niềm tin về một ngày mai !
Trịnh Kim Tiến.
Ngày em mang Hoàng Sa – Trường Sa lên đường dấn thân cho Tự Do.
Cả đất nước sáng bừng lên hy vọng”
( Gởi Trịnh Kim Tiến – Đào Tấn Phần )

Nhân ngày giỗ cha, em đã chia sẽ niềm đau tiếp tục đi tìm công lý, cũng như bao người có hoàn cảnh như em ở đất nước này: “Một năm qua đi. Lý do tôi phải đành đoạn để họ cắt xẻ thân xác của bố tôi vẫn còn đó: CÔNG LÝ. Công lý vẫn bị băm vằm. Một năm qua đi. Ánh mắt bố tôi nhìn tôi lần cuối trên cuộc đời như lời trăn trối: CÔNG LÝ. Công lý vẫn còn mù tăm” ( Nguồn: Facebook Trịnh Kim Tiến ).

Nối tiếp truyền thống yêu nước từ những Anh Thư nước Việt, Hai Bà Trưng:

“Hồng quần đạp bước chinh yên,

Đuổi ngay Tô Định dẹp yên cõi bờ”.

Câu nói sức mạnh đâu thua kém nam nhi của bà Triệu Thị Trinh: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá kình biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang san, cởi ách nô lệ chứ tôi không chịu khom lưng làm tì thiếp người ta”. Hổ phụ sinh hổ tử, khí phách dũng khí của bà Bùi Thị Xuân: “Con nhà tướng không được khiếp nhược trước quân thù”.

 Họ là luật sư Lê Thị Công Nhân tù 3 năm cũng vì đấu tranh cho sự thật ( Ảnh chụp bên phải ), Phạm Thanh Nghiên người con gái bé nhỏ tọa kháng vì Trường Sa – Hoàng Sa đang chốn lao tù ( Ảnh chân dung bên trái ), Hồ Thị Bích Khương, Đỗ Thị Minh Hạnh tiếng nói đấu tranh cho dân oan:

“Hạnh phúc của em là hạnh phúc của dân oan.
Của những con người không có quyền được nói”.

( Trần Trung Đạo )

Chị Bùi Thị Minh Hằng rực rỡ đi đầu trong các cuộc biểu tình vì Hoàng Sa – Trường Sa, biển đảo yêu quý, Việt Nam vinh quang. Chị Tạ Phong Tần, chủ trang blog Công Lý và Sự Thật đã bị công an Việt Nam bắt vô cớ vào sáng ngày 5 tháng 9 năm 2011. Chị cũng là người được Tổ Chức Human Rights Watch công bố trao giải thưởng nhân quyền về viết blog Hellman/Hammett ( cùng với bảy người Việt Nam khác ) vào ngày 14 tháng 9 vừa qua. Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đã suy tư: “Trong một thế giới đầy dối trá, thì chỉ một lời nói thật đã là cuộc cách mạng… Tôi sẽ không ngồi yên chờ đợi thay đổi, mà tôi tự thay đổi từ chính trong suy nghĩ của tôi !”

Với Thanh Tuyền, nỗi đau mất chồng, bổn phận báo hiếu cha mẹ, chị quyết đòi trả lại sự thật cho cái chết oan của chồng, cũng như đấu tranh cho công lý lên ngôi là bổn phận: “Đi tìm mang ý nghĩa là công lý đang nằm ở đâu đó và mình tìm nó. Tôi không đi tìm. Tôi đấu tranh để có công lý, để công lý có thể phục hồi. Tôi biết một mình tôi sẽ không làm nổi chuyện đó nhưng ít ra tôi biết đất nước này đang có thêm một người đang đấu tranh cho công lý. Những gì xảy ra trong gần 1 năm qua đã dạy cho tôi một bài học: Công lý không thể xin mà có, không thể trông mong vào sự ban phát của ai cả mà phải tranh đấu, xây dựng nó. Và tôi có quyền làm điều đó với trách nhiệm của một công dân…” ( Nguyễn Thị Thanh Tuyền – Dân Làm Báo ).

Những người phụ nữ Việt Nam âm thầm nuôi những đứa con mang chí lớn đang trong tù thật đáng trân trọng. Lao tù đâu phải do lỗi họ, nhưng do họ đã dám đấu tranh với cái ác, không muốn trở thành vô cảm trước hiểm họa của dân tộc, nỗi đau của đồng bào, cuộc sống họ chọn lựa với ý nghĩa:

“Thời gian được ban cho chúng ta trong cuộc sống thật là quí giá để khám phá và chu toàn việc lành, trong tình yêu Thiên Chúa. Như thế chính Giáo Hội tăng trưởng và phát triển để đạt tới sự trưởng thành trọn vẹn của Chúa Kitô ( Xc. Ep 4, 13 ). Chính trong viễn tượng tăng trưởng năng động như thế có lời chúng ta khuyên bảo và khích lệ nhau đạt tới tình yêu viên mãn và các việc lành. Đáng tiếc là vẫn luôn có cám dỗ sống trong nguội lạnh, bóp nghẹt Thánh Linh, từ khước không làm sinh lợi những nén bạc đã được ban cho chúng ta để mưu ích cho bản thân và tha nhân ( Xc. Mt 25, 25 )”. ( Trích Sứ Điệp Mùa Chay của Đức Giáo Hoàng Biển Đức )

Nhiều người phụ nữ, Anh Thư nước Việt hôm nay có thể đã không chung một niềm tin tôn giáo nhưng trong họ đạo làm người, đạo tình thương, lòng nhân hậu, sự tử tế vẫn gặp nhau, họ đã có chung một hành trình tìm hạnh phúc cho những người yêu mến, cao quý thay những tấm lòng của những con người đó. Nhà văn Võ Thị Hảo khi đài BBC phỏng vấn đã nói: “Khi đã cầm lấy cây bút, người ta phải cảm nhận được nỗi đau của người khác, nỗi oan khuất của một người trong xã hội, mình phải quan niệm là không của riêng ai cả. Nếu tôi thấy nhiều người khổ quá, hay thấy những khuynh hướng vi phạm quyền của con người thì tôi phải nói. Đó là lương tâm tối thiểu”.

Hay cô gái trẻ nhưng tâm hồn lớn, tâm hồn việt nam kết tinh từ truyền thống phụ nữ Việt Nam và anh hùng đất Quảng: Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng… “Tôi thương dân tộc tôi – dân tộc anh hùng có bốn ngàn năm Văn Hiến đã và đang phải gò lưng nuôi cả một chế độ độc tài bất công, không những thế lại bị tước hết các quyền tự do được sống như những con người chân chính và có ý chí. Trong tình yêu thương ấy, với nhiệt huyết trào dâng trong lòng một cô gái trẻ, tôi đang mơ một ngày cả nước Việt Nam từ Hà Nội, Đà Nẵng, Sàigòn, tất cả chúng ta – những người Việt Nam không phân biệt già trẻ, nam nữ, Phật giáo đồ hay con Chúa… cùng xuống đường trong những khẩu hiệu chống độc tài, tham những, đòi quyền tự do dân chủ. Và rồi sẽ cùng nhau kiến tạo một Việt Nam với diện mạo mới” ( Huỳnh Thục Vy ).

Ôi Việt Nam quê hương tôi, bao con người làm nên lịch sử sưởi ấm lòng người, đánh thức những trái tim đang ngủ yên, đứng lên đáp lời sông núi, xứng với truyền thống tiền nhân:

“Đất nước mình không có hôm nay.
Nếu hai ngàn năm trước không có bà Trưng, bà Triệu.
Và sẽ tiếp tục sống trong độc tài nô lệ.
Nếu không có những người con gái như em.
Dòng sông dài và phiến đá chông chênh.
Nhưng nếu tất cả đều co ro, sợ hãi.
Nếu tất cả đều đứng nhìn, e ngại.
Dân tộc này rồi sẽ ra sao ?
( Bài thơ cho Đỗ Thị Minh Hạnh ( Ảnh chụp ) – Trần Trung Đạo )

Xin mượn phần cuối bài chia sẻ Thánh Lễ cầu nguyện cho Công Lý Hòa Bình đầu Mùa Chay, Chúa Nhật 26.2.2012, tại Nhà Thờ DCCT Kỳ Đồng, cha Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh khuyến khích sống Tin Mừng ý nghĩa trong Mùa Chay năm nay:

“Là tín hữu Chúa Kitô, bước vào Mùa Chay nếu ta đặt câu hỏi: ta phải làm gì đây, phải cố gắng sống thế nào cho đẹp lòng Chúa, thì qua Ngôn Sứ Isaia, Chúa đã cho chúng ta câu trả lời. Không những thế, Chúa còn cho ta những tấm gương sống động như đã nói trên đây, và còn biết bao nhiêu tấm gương khác nữa. Tất cả đang trả giá để bày tỏ lòng yêu nước trước hiểm hoạ xâm lăng, để nói lên khát vọng tự do dân chủ, để đấu tranh cho công lý, cho hoà bình. Họ không phải là những người ngồi trước bàn phím ung dung đặt câu hỏi: phải lên tiếng hay không lên tiếng. Họ cũng không dừng lại nơi những kiến thức thâu thập được từ những buổi tập huấn về học thuyết xã hội của Giáo Hội Công Giáo, và cứ coi như học thuộc bài để trả cho thầy là xong”.

Đời sống con người liên đới nhau về bổn phận cũng như trách nhiệm với tha nhân, dân tộc, lịch sử và Thiên Chúa, là một đòi hỏi lựa chọn dấn thân trong đời sống Kitô Hữu: “Đứng trước một thế giới đang đòi hỏi các tín hữu Kitô một chứng tá được đổi mới về tình yêu thương và lòng trung thành với Chúa, tất cả chúng ta cảm thấy sự cấp thiết phải nỗ lực thi nhau làm việc bác ái, phục vụ và làm việc lành” ( Xc. Dt 6, 10 ).

Những đóa hồng thắm đỏ ngày 8 tháng 3 kính dâng những bà Mẹ Việt Nam đã và đang làm đẹp cuộc đời. Những bông hồng vàng ánh thép thương tặng những Anh Thư trẻ tuổi nước Việt hôm nay, cho Việt Nam quê hương tôi mãi mãi:

“Tổ tiên ngàn năm gìn giữ.

Ngàn năm bờ cõi mở mang.

Biết bao người mẹ Việt Nam.

Đã hoá đá cùng đau thương năm tháng”.

( Lê Diễn Đức )

HẠNH NGUYỄN, Boston, 3.3.2012

Theo EPHATA số 499

Advertisements
Chuyên mục:Bình Luận
  1. Không có bình luận
  1. 12.03.2012 lúc 11:20

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: