Trang chủ > Tìm hiểu > Ý NGHĨA CÁI CHẾT CỦA CHÚA GIESU

Ý NGHĨA CÁI CHẾT CỦA CHÚA GIESU

 LTCG (11.04.2012)

Không kể người ngoại, ngay cả tín hữu chúng ta từ trước đến giờ vẫn đinh ninh Danh Thánh Giesu Kito là một. Thế nhưng trên phương diện thần học thì không phải như vậy. Giesu chỉ là một tên riêng như bao tên khác chẳng hạn Giacobe, Simon, Anna, Gioan v.v…Còn Kito là tước hiệu ám chỉ cho Đấng được xức dầu, Messia, Con Thiên Chúa v.v.. Việc tuyên xưng Danh Thánh Chúa Giesu là một với Kito như thế tưởng như bình thường nhưng thực ra đây là điều Đức Kito đòi buộc chúng ta cần phải làm chứng “ các ngươi là chứng nhân về mọi việc đó” ( Lc 21, 48 ).

Mọi việc cần làm chứng đó là nhìn nhận Chúa Giesu đích thực là Con Thiên Chúa và là Cứu Chúa của mình. Việc làm chứng ấy đã được các tông đồ tiên khởi hăng say thực hiện đầy lòng can đảm “ Vậy các tông đồ ra khỏi Công Hội đều lấy làm vui mừng vì mình được kể là xứng đáng chịu nhục vì Danh Giesu. Mỗi ngày tại đền thờ hoặc ở nhà họ không ngớt giảng dạy Giesu là Đấng Kito” ( Cv 5, 42 ).

Tại sao việc làm chứng cho Chúa Giesu lại đòi hỏi phải hy sinh dù cho cả đến tính mạng mình như thế ? Lý do là bởi thế gian không bao giờ chấp nhận điều ấy “ Vì chưng người Do Thái đòi hỏi dấu lạ, người Hy Lạp tìm kiếm sự khôn ngoan, còn chúng tôi rao giảng Chúa Kito chịu đóng đinh trên thập giá, một cớ vấp phạm cho người Do Thái, điên rồ với người ngoại giáo” ( 1Cr 22, 23 ).

Trong ý nghĩa xác thực của việc truyền giáo, bao giờ cũng phải gắn liền với việc làm chứng, còn như không phải như thế thì truyền giáo đồng nghĩa với việc tuyên truyền mà tuyên truyền thì với tôn giáo nó chẳng nghĩa lý gì cả. Mặc dù vậy để cho việc truyền giáo có thể đến được với muôn dân thiên hạ thì không thể không tiếp xúc với mọi tôn giáo, mọi nền văn hóa triết học khác. Trong việc tiếp xúc ấy thì triết học Hy Lạp không những là một đối tượng quan trọng bậc nhất mà nó còn mang tính quyết định cho cả tương lai vận mạng của Giáo Hội cho đến tận bây giờ. Sự quyết định ấy đến rất sớm , khởi đầu bằng việc dung hòa giữa đức tin và lý trí của một triết gia Do Thái tên là Philon le Juif ( phỏng năm 20 TCN ) Nguyên do đưa đến có sự dung hòa là bởi Philon muốn cho người Hy Lạp có thể chấp nhận được Đấng Thiên Chúa Thần Linh Tạo Hóa của Do Thái giáo.

Triết Hy Lạp khởi từ Platon và Aristote là triết duy lý mà duy lý thì không thể nào chấp nhận Thiên Chúa của Do Thái giáo là Đấng chỉ có thể tiếp nhận bởi đức tin. Một khi chấp nhận dung hòa thì Thiên Chúa không còn là Thiên Chúa Hằng Sống của các tổ phụ ( Lc 20, 37 -38 )nhưng là của triết học đồng thời Đức Kito lại biến thành Logos Ngôi Lời Nhập Thể.

Chính là trong quan niệm Logos Nhập Thể đó mà đã khiến gây ra không biết bao nhiêu là lạc giáo, từ Apolinaire với thuyết logos Sarx chủ trương nơi Đức Kito chỉ có một bản thể, một chủ vị duy nhất cho đến thuyết Logos Anthropos cho Đức Kito có hai bản tính = thiên tính và nhân tính. Những cuộc tranh luận dằng dai bất tận giữa các trường phái thần học đưa đến cuộc khủng hoảng triền miên trong giáo hội khiến Chúa Giesu không được nhận biết đúng như nhận định của linh mục Tissa Balasuriya “ Điều quan trọng là chúng ta cần biết Đức Kito đã sống như thế nào, Ngài đã dạy những gì và tại sao người cùng thời lại đối xử với Ngài như vậy. Điều quan trọng hơn nữa là phải nhìn cuộc sống và cái chết của Đức Giesu như được trình bày trong các sách Tin Mừng. Cái gọi là Thần học đã gây ra biết bao điều tai hại cho Đức Giesu, cho Kito giáo và cho thế giới bằng cách đưa ra một nền thần học không làm chứng cho cuộc đời đích thực con người của Chúa Giesu, trái lại còn Thần Thánh hóa Ngài quá mức và Kito hữu thủ đắc được Ngài quá kỹ khiến họ có thái độ và hành động kiêu kỳ, khó chấp nhận được “ ( NS Cg & Dt số 26 Tháng 2/1997 )

Từ chỗ thần thánh hóa Đức Kito, giờ đây lại phá hủy đức tin vào Ngài bằng cách kêu gọi trở lại với Đức Kito lịch sử. Với việc đòi hỏi này thần học đã biến Đức Kito thay vì là Đấng Cứu Độ trần gian lại là một nhà hoạt động chính trị bất đắc chí.

I/- Thần học với Đức Kito lịch sử.
Khoảng vài chục năm nay có một tác phẩm nổi tiếng đã được tái bản nhiều lần là cuốn “ Đức Giesu trước khi có Kito giáo” ( Jesus before Christianiti ). Ngay trong lời tựa Albert Nolan “ muốn nhấn mạnh rằng đã có một người nhân danh Thiên Chúa lên tiếng giải phóng cho con người đương thời và cho cả nhân loại. Người đó là Giesu Nazareth, một Giesu có trước và ở trên Kito giáo” ( Lm Micae Trần Đình Quảng – Đức Giesu trước khi có kito giáo, một nỗ lực hiện đại trở về với Đức Giesu lịch sử ).

Nói đến “ Một Giesu có trước và ở trên Kito giáo” điều ấy có nghĩa tác giả muốn phủ nhận lòng tin nơi Đức Kito mà giáo hội từ trước vẫn hằng tuyên xưng. Khởi từ tiền đề phủ nhận ấy, tác giả trình bày một đức Kito trong tính chất của một người hoạt động chính trị ngay từ trong ý định “Điều quan trọng là cần biết chính những lời Đức Giesu nói và những việc Ngài làm ( ipsissime vox et facta ). Nhưng điều quan trọng hơn là khám phá ra ý định nguyên thủy của Ngài ( ipsissima intentio ). Biết các lời nói và việc làm, việc đó chỉ có giá trị trong mức độ chúng cũng giúp ta khám phá ra những ý định nguyên thủy của Đức Giesu” ( Lm Micae….)

Ý định là cái quyết định cho mọi hoạt động của con người, có ý định ăn mới ăn, có ý định đi mới đi. Cũng vậy, có ý định làm chính trị mới làm chính trị. Chính bởi …ý định nguyên thủy của Chúa Giesu là làm chính trị thế nên Ngài mới “chọn Gioan làm phép rửa cho mình. Sự kiện này ít ra cho thấy Đức Giesu quyết định đi với Gioan Tẩy Giả hơn là với bất cứ nhân vật hay phong trào nào khác của thời ấy. Và hiểu được Gioan khác những người đương thời ở chỗ nào tức là nắm được đầu mối giúp định hướng tư tưởng của Đức Giesu. Gioan khác với mọi hạng người đương thời. Ông là một ngôn sứ cảnh cáo về tai họa sắp đến, tuyên bố có một người sắp nhân danh Thiên Chúa xét xử Itsrael nhưng cũng loan báo ơn Thiên Chúa cứu độ . Lời cảnh cáo cũng như lời hứa hướng tới toàn dân và từng người. Họ phải hối cải thật lòng qua việc lãnh nhận phép rửa của Gioan. Lúc ấy Gioan là nhân vật duy nhất gây ấn tượng mạnh nơi Đức Giesu. Thế nên Ngài đã hưởng ứng lời ông và để ông làm phép rửa cho mình. Cũng như Gioan Ngài ý thức một cuộc tàn phá sẽ xảy ra cho người Do Thái vì họ đụng độ với người Roma” ( Lm Micae….).

Tuy Chúa Giesu…hưởng ứng đi theo và chịu phép rửa nơi Gioan nhưng lại có sự lựa chọn khác với Gioan “ Đức Kito không làm phép rửa nhưng đi tìm các chiên lạc nhà Itsrael, những người này thuộc thành phần hạ đẳng trong xã hội gọi chung là những người nghèo khổ bị áp bức mà Tin Mừng quen gọi là đám đông” ( Lm Micae….).

Bất cứ nhà hoạt động chính trị nào cũng đều nhắm và phổ biến cho quảng đại quần chúng biết đến lý tưởng cũng như mục tiêu đấu tranh của mình. Theo tác giả thì Chúa Giesu thực hiện công việc ấy bằng cách…rao giảng Tin Mừng “ Loan báo Tin Mừng cũng là một thành phần của công trình giải thoát, nội dung của nó là Nước Thiên Chúa đã đến, đến cho người nghèo khổ và bị áp bức. Nền tảng của nó là các mối phúc, Nước Thiên Chúa này ở ngay giữa thế gian khi người nghèo không còn nghèo, người bị áp bức thoát ách khốn khổ. Lời rao giảng của Đức Giesu về Nước Thiên Chúa làm cho người ta hy vọng. Nhưng lúc ấy niềm hy vọng này không liên quan gì đến cõi trời ít nhất được hiểu như một cõi hạnh phúc ở đời sau. Vì sao ? Vì trời là của Thiên Chúa, nơi Thiên Chúa ngự, con người không thể tới đó được….Vậy Nước Thiên Chúa mà Đức Giesu rao giảng không phải là một thực thể ở trên trời nhưng là một tình trạng tương lai ở thế gian, khi người nghèo không còn nghèo, người áp bức không còn bị áp bức. Nó được biểu thị bằng một ngôi nhà hay một đô thị có tường thành bao quanh” ( Lm Micae….)

Loan báo Tin Mừng cũng chỉ là một thành phần của công trình giải thoát, hiểu như vậy thì việc rao giảng ấy cũng chẳng khác chi ….việc tuyên truyền và nếu quả thực như thế thì cái gọi là Tin Mừng ấy thực chất chỉ là một lời hứa hão cho một tương lai xa vời khi người nghèo không còn nghèo, người áp bức không còn bị áp bức ( sic ). Lời hứa ấy chính K. Marx và những kẻ theo ông cũng tuyên truyền như thế khi hứa cho nhân loại một thế giới đại đồng làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu ???.

Mặt khác chẳng những Chúa Giesu …tuyên truyền cho lý tưởng của mình mà còn hoặch định cả cơ cấu chính quyền cho nó “ Chắc hẳn Đức Giesu đã nghĩ về một xã hội có cơ cấu chính trị theo chế độ quân chủ ngay trên mặt đất này” ( Lm Micae….) Có ý định và thực tế cũng đã làm chính trị mà làm chính trị thì tất yếu cần phải lật đổ ách thống trị của ngoại bang “ Một câu hỏi được đặt ra Đức Giesu có mưu lật đổ chính quyền Roma không ? Thực sự Ngài muốn Itsrael được giải thoát khỏi đế quốc Roma cũng y như tâm trạng của những người Zelot, Biệt phái, Esseni hay bất cứ ai khác” ( Lm Micae….).

Bất cứ mưu đồ lật đổ chính quyền nào thì cũng phải trả giá. Chúa Giesu biết điều ấy, thế nhưng để theo đuổi lý tưởng đến cùng của mình, Ngài …đành phải lựa chọn cái chết, không còn con đường nào khác “ Ngài chấp nhận đau khổ và cái chết là để phục vụ ơn cứu rỗi của mọi người. Chết là lối thoát duy nhất để theo đuổi công cuộc phục vụ này. Vì sao lại là lối thoát duy nhất, không còn cách lựa chọn nào khác sao ? Chắc chắn Đức Giesu biết rõ những nguy hiểm do những điều Ngài nói và làm mang lại. Herode đang tìm giết Ngài và sau sự cố đền thờ nhiều người trong giới lãnh đạo cũng mưu hại Ngài. Ngài phải lựa chọn, hoặc sống lén lút hoặc xuất đầu lộ diện. Nếu sống lén lút Ngài không thể gây cho người ta niềm tin vào Nước Thiên Chúa như Ngài đã từng làm. Còn xuất đầu lộ diện để tiếp tục sứ mệnh thì chắc chắn phải chết. Đức Giesu đã chọn giải pháp thứ hai và quả cảm đi lên Gierusalem bởi vì đó là cách duy nhất để ngỏ lời với thế gian” ( Lm Micae….)

Phải chọn cái chết bởi đó là cách duy nhất để tiếp tục phục vụ nhân loại. Vậy thử hỏi sự phục vụ ấy là phục vụ những ai, người nghèo khổ, người bị áp bức chăng ? hãy nhìn lại xem thế giới hôm nay người nghèo có còn chăng hay trái lại ngày càng tăng đến nỗi ngay tại nước đại tư bản Mỹ kia người ta đã phải hô hoán nhau chiếm lấy phố Wall. Còn người Âu Châu thì nạn thất nghiệp hiện đang lan tràn và có nguy cơ đưa nền kinh tế thế giới đến chỗ sụp đổ không biết lúc nào ?. Lại nữa người áp bức không còn bị áp bức, vậy thử hỏi cả tỷ người trong các nước CS, những nước độc tài, kể cả độc tài tôn giáo thì sao, họ chẳng phải là những người đã và đang bị áp bức cả sao ?

Nói rằng Chúa Giesu chọn cái chết để tiếp tục phục vụ nhân loại không những là sự lầm lạc đáng kết án mà nó còn là sự phỉ báng niềm tin của Giáo Hội trong bấy lâu nay.

II/- Cái chết cứu độ
Hoạt động chính trị, có mưu đồ lật đổ để rồi bị bắt bị giết bởi chính quyền đô hộ, đó là điều đương nhiên không ai tránh khỏi kể cả Chúa Giesu “ Cuối cùng con người ấy đã bị bắt và xử tử. Như tác giả lập luận không phải tòa án tôn giáo Do Thái mà chính tòa án Roma đã ra lệnh bắt và kết án Đức Giesu vì cho Ngài là mối đe dọa nghiêm trọng trong lãnh vực chính trị. Còn vai trò của các nhà lãnh đạo Do Thái chỉ là bắt nộp Ngài cho người Roma” ( Lm Micae……) Chúa Giesu bị bắt rồi bị giết bởi tòa án nào, điều ấy đã được Kinh Thánh ghi chép rõ ràng, sao có thể xuyên tạc cách trắng trợn như vậy ?

Người Do Thái từ lâu đã rắp tâm bắt, giết Chúa Giesu, nhất là sau sự cố đền thờ “ Hàng ngày Ngài dạy dỗ trong đền thờ, các thầy tế lễ cả, các văn sĩ cùng bực tôn trưởng trong dân tìm phương kế tiêu diệt Ngài nhưng chưa tìm được cách gì vì cả dân đều đeo theo Ngài” ( Lc 19, 47 -48). Ngay sau khi bắt họ giải Ngài đến tòa thượng tế Caipha “ vừa sáng các trưởng lão trong dân, các thầy tế lễ cả và các văn sĩ đều họp lại dắt Giesu vào Công Hội của họ” ( Lc 22, 66). Người Do Thái bởi là nước thuộc địa thế nên không có quyền kết án. Tuy nhiên việc giết Chúa đã được quyết định vì họ cho rằng đã có đủ chứng cớ “ Chúng ta còn cần chứng cứ gì nữa. Vì chính chúng ta đã nghe từ miệng ngươi rồi” ( Lc 22, 71 ). Chính vì đã quyết định phải giết cho bằng được thế nên trong phiên tòa Philat người Do Thái ra công ra sức vu vạ cho Chúa đủ điều “ Họ bèn tố cáo Ngài rằng = chúng tôi đã thấy người này dụ hoặc dân ta, cấm nộp thuế cho Seda và xưng chính mình là Kito, là vua. Philat hỏi Ngài rằng ngươi có phải là vua dân Do Thái không. Chúa Giesu đáp = phải như quan nói đó. Philat bèn nói với các thầy tế lễ cả và quần chúng rằng =- ta không thấy người này có tội gì” ( Lc 23, 5)

Khi nghe Chúa Giesu xác nhận mình là vua dân Do Thái Philat cho là vô tội bởi ông ta nghĩ rằng người này có thể khùng điên gì đó hoặc cũng có thể là một bậc Thánh nhân cao cả nhưng dù sao cũng chẳng có chi đe dọa tới địa vị của ông cũng như của mẫu quốc. Tuy nhiên người Do Thái vẫn quyết giết Chúa Giesu cho bằng đuợc “ Họ cực lực quả quyết rằng người này xúi giục dân chúng, dạy dỗ khắp Giude, bắt đầu từ Gallile rồi đến đây” ( Lc 23, 5 ).

Philat đại diện cho quyền bính Roma nhất định không chịu kết án Chúa Giesu nhưng người Do Thái thì quyết phải giết “ Người này thật không làm gì đáng chết cả. Vậy nên ta sẽ sửa trị rồi thả người đi. Vả đến kỳ lễ, quan cần phải thả một tên tù cho dân. Nhưng họ đồng thanh kêu lên = Hãy trừ khử người này đi mà thả Baraba cho chúng tôi…Người Do Thái chẳng những đòi thả Baraba, giết Giesu một lần mà rất nhiều lần hò hét như vậy. Còn Philat thì vẫn một mực “ Ta không thấy người này có cớ gì đáng tội chết, vậy nên ta sẽ sửa trị rồi thả ngườii đi. Nhưng chúng lớn tiếng ép bức đòi phải đóng đinh Ngài trên thập tự giá và tiếng gào thét của họ đã thắng” ( Lc 23, 15 -23).

Chúa Giesu có bị bắt và giết bởi người Roma hay không thì Kinh Thánh đã có câu trả lời hết sức rõ ràng. Vậy tại sao thần học lại có thể bẻ quặt vấn đề như thế ? Để hiểu điều này, chúng ta cần phải biết lý do tại sao người Do Thái lại căm ghét Chúa Giêsu đến thế ?

Trong tất cả mê lầm thì sự cố chấp trong ý hệ là một tai họa lớn nhất của nhân loại. Những cuộc chiến tranh dù là chính trị hay tôn giáo đều được dựng xây trên ý hệ và vì thế nó luôn nhuốm màu lý tưởng cần được bảo vệ bằng chính sinh mạng con người. Tuy nhiên sự bảo vệ ấy cuối cùng chỉ là để duy trì quyền lợi của một nhóm thiểu số đặc quyền đặc lợi. Trong chính trị thì nhóm ấy là giới cầm quyền , còn trong tôn giáo là hạng giáo sĩ cao cấp. Chúa Giesu bị người Do Thái, hay nói đúng hơn bị giới giáo sĩ, luật sĩ căm ghét chính là bởi đạo lý mà Ngài rao giảng đã đụng chạm đến phần ý hệ Đấng Thần Linh của họ. Với Đấng thần linh vô đối này thì tất cả những lời rao giảng cũng như hành vi của Đức Kito và các môn đệ đều trái ngược với các niềm tin cố hữu của họ.

Người Do Thái tin vào luật lệ một cách mù quáng, luật dạy phải giữ ngày Sabat, các môn đệ Chúa trên đường rao giảng có bứt vài bông lúa ăn cho đỡ đói đã bị họ quở trách “ Coi kìa môn đệ thầy đã làm điều không được phép làm trong ngày Sabat” ( Mt 12, 2 ). Lần khác Chúa chữa bệnh cho người teo tay, người ta chất vấn “ Trong ngày Sabat có được phép chữa bệnh hay không ?” ( Mt 12, 10 ).

Mặc dầu Đức Kito đã làm phép lạ, chữa lành bệnh tật, hóa bánh ra nhiều, khiến cả người chết sống lại đồng thời người ta cũng hết sức thán phục trước chân lý mà Ngài rao giảng “ Người giảng dạy như Đấng có uy quyền chứ không như các luật sĩ” ( Mc 1, 22) thế nhưng người Do Thái vẫn không thể chịu nổi với việc Chúa Giesu nhận mình là Con Thiên Chúa “ Người Do Thái lại lấy đá để ném Ngài. Chúa Giesu phán =- Ta do Cha mà tỏ nhiều việc lành cho các ngươi, vì việc nào trong đó mà các ngươi lại ném đá Ta ? Người Do Thái đáp = Ấy chẳng phải vì các việc lành mà chúng ta ném đá ngươi đâu nhưng vì lộng ngôn bởi vì ngươi vốn là ngườii mà lại tự tôn là Đức Chúa Trời. Chúa Giesu đáp = Trong luật pháp các ngươi há chẳng chép rằng Ta đã nói các ngươi là Con Đấng Chí Cao ( Tv 82, 6 ) hay sao ? Nếu Chúa gọi những kẻ được nghe Đạo ĐCT là Con Chúa ( mà KT thì không thể bãi bỏ) thì Ta đây là Đấng đã đượic biệt ra Thánh và sai xuống thế gian nói rằng Ta là Con ĐCT cớ sao các ngươi lại cáo buộc Ta là lộng ngôn ? ( Ga 10, 31 -36 ).

Như vậy là đã rõ, Chúa bị ném đá, bị bắt và bị ngườii do Thái kết tội chết vì cho Ngài là lộng ngôn phạm thượng. Ngay cả trong phiên xét xử tại dinh Caipha cũng vẫn với lý do đó “ Chúng ta còn cần chứng cớ gì nữa, vì chính chúng ta đã nghe từ miệng ngươi rồi” ( Lc 22, 71 ).

Người Do Thái được gọi là Dân Riêng Thiên Chúa, là đồng đạo với Chúa Giesu nhưng đã quyết ý giết Ngài chỉ vì lòng họ đã cố chấp vào một niềm tin sai lạc. Thế nhưng cái tai họa do việc giết Chúa ấy lại là một hồng ân đã được báo trước hầu cho muôn dân thiên hạ có thể nhận lãnh Ơn Cứu Chuộc “ Giave Thiên Chúa lấy làm vừa ý mà làm tổn thương Người và khiến gặp sự đau đớn. Sau khi đã dâng mạng sống Người làm lễ chuộc tội, Người sẽ thấy dòng dõi mình. Những ngày Người sẽ thêm dài ra và Ý Chỉ của Thiên Chúa nhờ tay Người mà được thạnh vượng. Người sẽ thấy kết quả sự khốn khổ của linh hồn mình và lấy làm thỏa mãn. Tôi tớ công chính của Ta sẽ lấy sự thông biết về mình làm cho nhiều người được nên công chính và Người sẽ gánh lấy tội lỗi họ” ( Is 53, 10 -11 ).

“ Giave Thiên Chúa lấy làm vừa ý mà làm tổn thương Người”, câu kinh Thánh khó hiểu này chỉ có ý nói cái chết của Chúa Giesu là do Thánh Ý thiên Chúa. Nơi Vườn cây dầu Chúa Giesu cầu nguyện trong nỗi hãi hùng của khổ nạn thập giá và đã phải thốt lên “ Lạy Cha nếu có thể thì xin cất chén đắng này cho con nhưng đừng theo ý con mà theo Ý Cha” ( Mt 26, 39). Cái nỗi tham sinh úy tử là chung của muôn loài, mà đã tham sinh thì tất phải lợi mình..hại người. Chúa Giesu thì không như vậy, mặc dù đã nhận thức rất rõ về cái chết của mình cách nào và khi nào nhưng ngài luôn hướng về nó như một sứ mạng “ Ta đến quăng lửa xuống cõi đất và Ta còn ước chi hơn là nó được cháy bùng lên. Nhưng có một phép rửa mà Ta phải chịu và Ta còn khắc khoải chừng nào cho đến khi nó thành tựu” ( Lc 12, 49 -50)

Lửa mà Chúa muốn đem đến cho nhân loại đó là Lửa Mến đồng thời cũng là Trí Huệ Vô Phân Biệt ( Bồ Đề Tâm ). Ôm ấp nơi mình cái chết như một sứ mạng cứu độ ( Phát Bồ Đề Tâm ), đây chính là Đại Nguyện của Đức Kito. Nói cách khác cũng chính vì Đại Nguyện ấy mà Chúa Giesu mới được tôn vinh là Kito Đấng Cứu Độ. Dẫu vậy không phải chúng ta tôn vinh nhưng là chính Thiên Chúa “ Ngài đã có mạo dạng như một người rồi bèn hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên thập tự giá. Cũng vì cớ đó nên ĐCT đã nhắc Ngài lên rất cao, ban cho Người danh vượt trên mọi danh hầu cho mọi đầu gối trên trời dưới đất đều nhân danh mà quỳ xuống và mọi lưỡi đều thừa nhận Giesu Kito là Chúa để quy vinh ĐCT là Cha” ( Pl 2, 8 -11).

Nhìn nhận Chúa Giesu là Cứu Chúa của mình để rồi chúng ta trở nên chứng nhân của Ngài bằng cách yêu thương như Chúa yêu “ Này là giới răn của Ta = các con hãy yêu thương lẫn nhau như Ta đã yêu thương các con. Chẳng ai có sự thương yêu lớn hơn là vì bạn hữu mà bỏ mạng sống mình” ( Ga 15, 12 -13).

Phùng văn Hóa

Tác giả gửi trực tiếp cho Lương Tâm Công Giáo Việt Nam

Advertisements
Chuyên mục:Tìm hiểu
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: