Lưu trữ

Archive for the ‘Gương chứng nhân’ Category

Chứng nhân của sự thật

LTCG (16.04.2012)

“Chỉ có “Sự thật sẽ giải phóng” con người, mới đem lại tự do hạnh phúc cho con người. Con người vốn có tinh thần hiền lành, dễ gặp nhau, dễ tha thứ, nhưng một khi biết mình bị lừa, bị gạt, bị dồn ép… thì họ có thể chấp nhận cả cái chết, nhất là “cái chết vì đạo”. Lịch sử cho thấy “quan nhất thời, dân vạn đại”, nhưng có được bao nhiêu vị hữu trách ý thức và nhạy bén trước những ý kiến, những khát vọng chính đáng của người dân. Trong bối cảnh cụ thể như thế, lòng yêu nước thôi thúc chúng tôi gửi lên Quý Ngài những đóng góp sau đây…”

Đó là những lời tâm huyết đầy khẳng khái của Đức cha Oanh, Giám mục giáo phận Kontum, trong văn bản gửi đến những vị lãnh đạo cao cấp của Nhà Nước, nhân việc ngài bị cản trở thi hành công việc mục vụ trong dịp lễ Phục Sinh vừa qua. Không một chút giận hờn cay đắng, không dùng đến “cái dũng” của kẻ tiểu nhân để mạt sát, miệt thị, thách thức, nhưng bằng thái độ hiền hòa mà cương quyết, khí khái không nhu nhược, ngay thẳng và không chút tà tâm, ngài nói lên tiếng nói hào hùng của lương tâm để “làm chứng cho sự thật” và mong “sự thật sẽ giải phóng”. Thật cảm động và sảng khoái khi nghe được tiếng nói tỏ rõ quan điểm cách chân thành và trung thực của vị Mục tử chân chính như lòng… dân Chúa mong muốn! Đó là tiếng nói ngôn sứ, tiếng nói của người được chọn làm “lính canh hừng đông”, là tiếng nói dầy dũng khí của người có nhân, có nghĩa, như lời Nguyễn Trường Tộ: “Biết mà không nói là bất nhân, nói mà không nói hết là bất nghĩa”. Xem chi tiết…

Advertisements

TẢN MẠN VỀ LINH ĐẠO CỦA ĐHY PHANXICÔ-XAVIE NGUYỄN VĂN THUẬN (VỚI LTS ROMA, NGÀY 4.03.2012)

LTCG (17.03.2012)

Nói về Đức cố HY Phanxicô-Xavie Nguyễn Văn Thuận là một niềm vui nhưng cũng là một thách đố. Với một thời gian ngắn dành cho chúng ta sáng nay, không dễ gì nói cho đúng và cho cùng về đời sống một người vừa lỗi lạc vừa thánh thiện. Tư tưởng của ĐHY rất đơn sơ, ai đọc cũng hiểu được[1], nhưng cũng rất cô đọng, sâu sắc, diễn tả một cách ngắn gọn như những câu châm ngôn, vững chắc về thần học và phong phú như con người và sự nghiệp của Ngài. Trong bầu khí tĩnh tâm hôm nay tôi chỉ gợi lên một vài nét mà tôi cho là quan trọng trong linh đạo của ĐHY. Phần thiếu sót trong sự trình bày của tôi sẽ được ACE bù đắp bằng kinh nghiệm và hiểu biết có được về ĐHY. Cái quan trọng không phải là nói về ĐHY ma sống như Ngài đã sống.

1.    Phải nên thánh

 Đó là mục tiêu đời sống của mọi kitô hữu, là xác tín sâu đậm của Người tôi tớ Thiên Chúa. “Thành tựu đẹp nhất của một đời người là sự thánh thiện… Không có cái gì trên đời này có thể so sánh được với cái đẹp của sự thánh thiện”.[2]  Và trong một lần cầu nguyện, Ngài đã thốt lên “Ai tả cho hết được cái đẹp của một linh hồn có Thiên Chúa.”!  Mẹ Maria đẹp đẽ như mặt trăng, trong sáng như mặt trời, vì Người là thánh, vì người có một tâm hồn đầy ân sủng, đầy Thiên Chúa.

Sự thánh thiện là tựu điểm của ân sủng và sự trả lời tự do của con người. TC kêu gọi, thánh hóa và cho chúng ta khả năng gặp được Ngài. Phía con người, ý thức tội lỗi và ân sủng là bước đầu của con đường nên thánh: “Con chỉ có một cách nên thánh: Ơn Chúa và ý chí con (x. 1 Cor 15, 10). Chúa không bao giờ thiếu ơn; con có đủ ý chí không?”.[3]  ĐHY cũng thú nhận: “Nhiều lần tôi không dám nghĩ đến sự thánh thiện: tôi muốn trung thành với Giáo hội, tôi muốn không từ chối gì cho sự lựa chọn của mình, nhưng tôi không dám nghĩ đến việc mình phải nên thánh, trong khi đó Chúa dạy rằng: “Các con phải nên toàn hảo như Cha các con ở trên trời” (Mt 5,14).  Tôi sợ nên thánh “ (Ho paura di essere santo).”. Tháng 2 năm 2002, vài tháng trước khi Ngài qua đời, ĐHY chia sẻ kinh nghiệm với một nhóm Linh mục: “Năm ngoái người ta mổ bướu cho tôi, mổ một phần thôi. Các bác sĩ đã lấy ra được 2 kí rưỡi bướu, còn lại trong bụng tôi 4 ki rưỡi nữa, mà họ không cắt đi được. Lúc đó tôi lo sợ nghĩ đến sự phải nên thánh: và đây chính là điều làm tôi đau khổ. Nhưng sự đau khổ đó cũng qua đi khi tôi nhận thức được thánh ý Chúa và tôi chấp nhận mang cục bướu đó cho đến chết và đồng thời chấp nhận hậu quả là chỉ ngủ được một đêm một tiếng rưỡi thôi. Bây giờ tôi cảm thấy bình an;  trong thánh ý Chúa tôi tìm được an bình”. Và Ngài lặp lại lời huấn dụ của ĐGH Gioan Phaolo với các người trẻ: “Đừng sợ nên thánh”![4]

Ý thức về tội lỗi và ân sủng cũng chưa đủ. Cần phải sống trong bầu khí của ân sủng, nuôi dưỡng ân sủng bằng cách bắt chước Chúa Giêsu trong giây phút hiện tại, bất kỳ ở đâu hay làm việc gì. Không có con đường nào khác để nên thánh hơn là bắt chước Chúa Giêsu. Người môn đệ quyết tâm bước theo Chúa Giêsu để giống Chúa Giêsu, thì mới trở nên “toàn hảo như Cha trên trời”.  Không ai vào thiên đàng mà không giống Chúa Giêsu. (nghe Bài giảng tĩnh tâm). Xem chi tiết…

Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp và việc loan báo tin Mừng hôm nay

LTCG (13.03.2012)

CHA PHANXICÔ XAVIÊ TRƯƠNG BỬU DIỆP
VÀ VIỆC LOAN BÁO TIN MỪNG TẠI VIỆT NAM HÔM NAY

(Nhân ngày giỗ 12 tháng 3 năm 2012)

1. Cha Trương Bửu Diệp là một nhân vật công giáo Việt Nam rất được mộ mến.

Ngài sinh ngày 01 tháng 01 năm 1897 tại họ đạo Cồn Phước thuộc giáo phận Long Xuyên. Ngài chết ngày 12 tháng 3 năm 1946 tại Tắc Sậy, trong thời kỳ lộn xộn căng thẳng giữa các lực lượng chính trị tôn giáo tại địa phương. Hiện nay Ngài an nghỉ tại nhà thờ Tắc Sậy thuộc giáo phận Cần Thơ.

Từ nhiều năm nay, số người hành hương đến Cha Diệp là vô số kể. Họ thuộc đủ mọi thành phần xã hội, với đủ mọi màu sắc tâm linh, đến từ đủ mọi miền đất nước. Đây là những cuộc hành hương tự phát tự nguyện. Họ có chung một cái nhìn: Cha Diệp là người từ tâm, chuyên cứu nhân độ thế.

Riêng tôi, tôi nhìn Cha Diệp như một nhà truyền giáo của thời tân Phúc Âm hoá. Truyền giáo nơi Ngài là làm chứng bằng chính con người của mình.

2. Cha Trương Bửu Diệp làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa là Cha thương xót mọi người.

Vẻ đẹp nhất nơi Cha Diệp là tình yêu thương đối với đoàn chiên nói riêng và đồng bào xung quanh nói chung.

Tình yêu này được diễn tả bằng hai mặt: Phục vụ và hy sinh. Phục vụ là đáp ứng nhu cầu của dân, cách riêng là thương cảm, chia sẻ những nỗi khổ của dân, và chỉ vạch cho họ con đường dẫn tới hạnh phúc thực. Hy sinh là chịu gian khổ cùng với dân, chịu đau khổ thay cho dân, gắn bó với dân, hy sinh mạng sống mình để cứu dân. Ngài phục vụ một cách từ tốn. Ngài hy sinh một cách khiêm nhường.

Với hai nét phục vụ và hy sinh, Cha Diệp gợi nhớ lại hình ảnh Người đầy tớ Đức Giavê được Isaia nói tiên tri trong Cựu Ước (x. Is 53). Tiên tri gọi người đầy tớ này là người đầy tớ khổ đau. Đầy tớ ở đây là phục vụ. Khổ đau ở đây là hy sinh thay cho người khác.

Với hai nét phục vụ và hy sinh, Cha Diệp vẽ lại hình ảnh chính Chúa Giêsu. Chúa Giêsu là Ngôi Hai xuống thế, để làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa. Làm chứng bằng khiêm tốn phục vụ, đem lại cho nhân loại sự sống thực, và làm chứng bằng khiêm tốn hy sinh mạng sống mình để cứu chuộc nhân loại. Xem chi tiết…

[Video] Câu Chuyện Truyền Thông: PAULUS LÊ SƠN

LÒNG THƯƠNG MẾN CÁC BỆNH NHÂN CỦA CHÂN PHƯỚC GIOAN-PHAOLÔ II

LTCG (18.02.2012)

Chân Phước Giáo Hoàng Gioan-Phaolô đã luôn rất thao thức và quan tâm đến thân phận các bệnh nhân và người đau khổ. Cuốn sách The Private Prayers of Pope John Paul II, The Loving Heart, Atria Books, New York, 2005 đã tổng hợp những tâm tình và lời cầu nguyện của ngài dành cho họ.

http://www.amazon.com/Loving-Heart-Private-Prayers-Pope/dp/0743444418

Nơi những người đang chịu đau khổ luôn ẩn chứa một trái tim thương yêu. Bản thân cha cũng đang bị đau đớn dằn vặt và cảm nhận về tật nguyền và bệnh hoạn nơi một thân xác yếu đuối. Chính là vì cha cũng đang chịu đau đớn nên cha có thể lập lại lời Thánh Phaolô với một thâm tín sâu xa hơn: Dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta. Xem chi tiết…

Chuyên mục:Gương chứng nhân

Đầu năm phỏng vấn linh mục Chân Tín về Giáo hội và Đất nước

LTCG (15.02.2012)

Nhân dịp năm mới, Nữ Vương Công Lý có dịp phỏng vấn linh mục Chân Tín, C.Ss.R về hiện tình Đất nước, Giáo hội và những dư luận xung quanh cuộc đời đấu tranh cho công lý, cho nhân quyền mà ngài đã dành cả cuộc đời dấn thân. Chúng tôi trân trọng gửi tới quý độc giả nội dung cuộc trả lời phỏng vấn này.

 

1. Thưa cha, lời đầu tiên, NVCL xin kính chúc cha mạnh khỏe, bình an trong Thánh linh Chúa để có nhiều đóng góp cho Giáo hội và đất nước.

Linh mục Chân Tín: Xin chân thành cám ơn NVCL, nhân những ngày đầu năm Nhâm Thìn chúc tôi mạnh khỏe, bình an trong Chúa Thánh Linh để có nhiều đóng góp cho Giáo hội và đất nước. Với ơn Chúa, tôi ráng đóng góp ít nhiều cho Giáo hội và đất nước. Với tuổi 93, tôi là một trong những người chứng của lịch sử hiện đại của Giáo hội và đất nước, nên tôi thấy có trách nhiệm và cố gắng góp phần vào việc xây dựng đất nước và Giáo hội.

2. Trước hiện tình đất nước đang chịu họa độc tài cộng sản, Giáo hội Việt nam còn đó những vấn đề cần nói đến. Theo cha, điều gì cần thiết nhất đối với Giáo hội Việt Nam hiện nay?

Linh mục Chân Tín: Chúa Giêsu khi lập Giáo hội đã ban cho các vị lãnh đạo Giáo hội ba chức năng Tư tế, Ngôn sứ và Vương đế.

Để đảm bảo chức năng tư tế, Giáo hội cần phải có một kế hoạch đào tạo linh mục độc lập với thế quyền, không thể để chính quyền, nhất là chính quyền cộng sản với chủ trương phá đạo, xía vào việc giáo dục đào tạo các linh mục, xen vào việc bổ nhiệm thuyên chuyển các giám mục, linh mục.

Để thực thi chức năng Vương quyền, Giáo hội Việt Nam phải có tự do phục vụ con người mà Thánh kinh gọi là chức năng Vương đế, chứ không phải quyền sống xa hoa vương đế. Phải để cho Giáo hội phục vụ người nghèo, những người đau khổ, người bị bóc lột, người bị áp bức. Thế nhưng, với chế độ cộng sản Việt nam, Giáo hội không được mở trường để giáo dục, không được mở bệnh viện để giúp bệnh nhân, không được tự do làm việc xã hội để giúp đỡ người cô thân, cô thế; không được làm ngành thông tin để nói lên sự thật…

Chức năng thứ ba là chức năng Ngôn sứ, chức năng rao giảng Tin mừng của Chúa cho mọi người, tức là quyền nói thẳng nói thật với chính quyền cộng sản về sự vi phạm tự do tôn giáo, quyền bênh vực nhân quyền, dân quyền. Hiến chế về Giáo hội trong thế giới ngày nay cả Công đồng Vaticano II đã nói: “Nỗi vui mừng và niềm hy vọng, những buồn khổ và nỗi lo âu của con người hôm nay, cách riêng của những người nghèo và của tất cả những ai đang đau khổ, đó cũng là vui mừng và hy vọng, đau buồn và lo âu của môn đệ Chúa Kito. Không có gì liên quan đến nhân loại mà không có tiếng van trong cõi lòng tín hữu Chúa Kito”. Xem chi tiết…

TGM Nguyễn Văn Thuận, nguyên nhân 13 năm lưu đầy khổ nhục (II)

Hồng Y Nguyễn Văn Thuận
Nguồn ảnh: USCCB Publishing

LTCG (09.02.2012)

Đi tìm lại nguyên nhân, cội nguồn 13 năm lưu đầy khổ nhục và can trường của một Tổng giám mục 

Nói chung, những người ủng hộ việc trục xuất Khâm sứ và TGM Thuận ra khỏi Sài gòn đã phổ biến hai tài liệu sau đây. Hai tài liệu này đều do Nguyễn Ngọc Lan và nhóm Trương Bá Cần chủ trương:

Tài liệu 1: Trong Tin Mừng hôm nay ngay từ các số 30 và 31 ngày( 1-4-1975) họ đã viết bài với nhan đề: Khâm sứ Tòa Thánh, Ngài là ai? Đại diện cho ai?

Tài liệu 2: Cũng trong Tin Mừng hôm nay, số đặc biệt ngày 15-8-1975, họ đã công khai đề cập đến vụ Giám Mục Nguyễn Văn Thuận, tài liệu quay ronéo, dài 60 trang.

Tài liệu 3: Tâm thư gửi anh chị em công giáo miền Nam do các nhóm: Phong trào thanh niên công giáo đại học, Phong trào công giáo xây dựng hòa bình, Phong trào thanh Lao Công, Đoàn sinh viên dự tập DCCT, Liên Đoàn sinh viên CGTH, CG và DT, Tổng đoàn Thanh niên công giáo, Nhóm Liên tu sĩ trẻ.

Tài liệu 4: Thử ghi lại một biến cố, dài 39 trang của Thanh Lãng như đã nói ở trên trong đó ông ghi lại diễn biến toàn bộ vấn đề từ âm mưu đòi thay thế Khâm sứ từ tháng 3/75 đến nội dung buổi họp ở Uỷ ban Quân quản (UBQQ).

Vài kẻ khuấy động vốn là thiểu số đó đạt được mục đích của họ: họ đã trục xuất được khâm sứ Henri Lemaitre về nước và trục xuất được Tổng Giám mục Nguyễn Văn Thuận ra khỏi Sài Gòn và tiếp theo đó là kiếp sống lưu đầy trong tù ngục cộng sản 13 năm của ông.

Sau này phần lớn số người trong các nhóm kể trên đều rã đám chỉ sau vài tháng sau 1975. Họ chỉ là những con cờ chính trị cho đám đàn anh mà tiêu biểu là Trương Bá Cần giật dây.

Và như thường lệ như thói quen viết châm biếm, mỉa mai, dùng kinh thánh để chế nhạo, Nguyễn Ngọc Lan trong Thư ngỏ của Tạp chí Đứng Dậy, số 72, trang 70, ông viết như sau:

“Vì Giám mục Nguyễn Văn Thuận rời Sài Gòn đi Nha Trang chỉ là chuyện của Xê Da trả lại cho Xê Da. Thật là chính đáng công bình. Đức Cha Bình có thể nghĩ đến vị phụ tá của mình mỗi buổi sáng khi đọc lời cảm tạ Chúa như thế trong kinh Tiền tụng lễ hằng ngày”.
Quan điểm của chính quyền cộng sản về việc bắt giam tù TGM Phó Nguyễn Văn Thuận Người cộng sản có một sự sắp xếp rất máy móc, đơn giản về con người và sự việc. Hoặc họ coi là bạn, hoăc là kẻ thù của họ. Miền Nam sau 1975 có chiến dịch đi “tìm thù” và biến miền Nam thành mảnh đất hung bạo với những ngữ từ quen thuộc như: Quét sạch, đánh phá, truy lùng, tố cáo.

Từ những quan điểm định sẵn của thứ quyền lực nằm trong tay kẻ chiến thắng, người viết xin được trích đăng lại ba quan điểm của giới chức chính quyền cộng sản giải thích lý do tại sao họ đã trục xuất TGM. Nguyễn Văn Thuận ra khỏi Tổng giáo phận Sài Gòn và sau đó bắt giam tù 13 năm. Đó là những lý do không cần lý do. Lý của kẻ mạnh. Lý của kẻ chiến thắng.  Xem chi tiết…